<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ Tư liệu - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</title>
	<atom:link href="https://holevietnam.vn/chuyen-muc/thu-vien/tu-lieu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://holevietnam.vn/chuyen-muc/thu-vien/tu-lieu/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Mon, 21 Mar 2022 10:58:05 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.5</generator>

<image>
	<url>https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/cropped-logo2-32x32.png</url>
	<title>Lưu trữ Tư liệu - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</title>
	<link>https://holevietnam.vn/chuyen-muc/thu-vien/tu-lieu/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Triều đại Hậu Lê – Lê Trung Hưng (1533 &#8211; 1789)</title>
		<link>https://holevietnam.vn/trieu-da%cc%a3i-ha%cc%a3u-le-le-trung-hung-1533-1789/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/trieu-da%cc%a3i-ha%cc%a3u-le-le-trung-hung-1533-1789/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 21 Mar 2022 10:56:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nghiên cứu dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tư liệu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2717</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Nhà Lê trung hưng (chữ Hán: 黎中興朝, Hán Việt: Lê trung hưng triều, 1533–1789) là giai đoạn tiếp theo của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê (tiếp nối nhà Lê Sơ) trong lịch sử Việt Nam, được thành lập sau khi Lê Trang Tông với sự phò tá của cựu thần nhà...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/trieu-da%cc%a3i-ha%cc%a3u-le-le-trung-hung-1533-1789/">Triều đại Hậu Lê – Lê Trung Hưng (1533 &#8211; 1789)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>HLVN &#8211;</em> Nhà Lê trung hưng (chữ Hán: 黎中興朝, Hán Việt: Lê trung hưng triều, 1533–1789) là giai đoạn tiếp theo của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê (tiếp nối nhà Lê Sơ) trong lịch sử Việt Nam, được thành lập sau khi Lê Trang Tông với sự phò tá của cựu thần nhà Lê sơ là Nguyễn Kim được đưa lên ngôi báu. Vùng đất Vạn Lại – Yên Trường (thuộc huyện Thụy Nguyên, nay là các xã Thuận Minh, Thọ Lập) để lập hành cung. Ngày 16/4 năm Quý Tỵ 1593 sau gần 70 năm sau khi đánh thắng nhà Mạc, sự nghiệp trung hưng nhà Lê hoàn thành vua Lê Thế Tông từ hành cung Vạn Lại được rước về Đông Kinh (1593–1789).</p>
<p style="text-align: justify;"> Đây là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_%C4%91%E1%BA%A1i">triều đại</a> dài nhất so với các <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_%C4%91%E1%BA%A1i">triều đại</a> <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> tồn tại 256 năm với 16 vị vua bao gồm: Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Anh Tông, Lê Thế Tông, Lê Kính Tông, Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông, Lê Đế Duy Phương, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông và Lê Mẫn Đế. Đây là thời kỳ lãnh thổ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a> được mở rộng nhiều lần nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại Thọ Xuân, trong thời gian 47 năm (1546 &#8211; 1593) hành điện được chuyển qua chuyển lại giữa Vạn Lại và Yên Trường nhiều lần (Đại Việt sử ký toàn thư). Chính tại nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện.</p>
<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2716" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928080808-1-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928080808-1-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928080808-1-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928080808-1-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928080808-1-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928080808-1-2048x1536.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Về văn hóa: Những thành tựu về kiến trúc nhiều đình chùa đền miếu được trùng tu, xây dựng, tiêu biểu như Hành cung Yên Trường, đền Cung Từ hoàng hậu Phạm Thị Ngọc Trần (tại Thọ Diên ngày nay), đền thờ  Lê Đại Hành (tại xã Xuân Lập); các trò diễn như trò Ngô, trò diễn Xuân Phả (Xuân Trường) là những đóng góp cho lịch sử sân khấu dân tộc ở thời kì này;</p>
<p style="text-align: justify;">Về giáo dục: ở Vạn Lại đã tổ chức 7 khoá thi đã có nhiều hiền tài có công với đất nước vào những năm cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Đó là các tiến sĩ Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thưc, Lê Trạc Tú&#8230; Trong số 45 người đỗ tiến sĩ ở Vạn Lại có hơn 30 người trở thành thượng thư, nhiều người được nhà vua cử đi sứ. Một số người sau khi đỗ tiến sĩ và làm quan và gắn bó với mảnh đất Vạn Lại như Phùng Khắc Khoan. Tại Văn Miếu Hà Nội ngày nay có 82 bia tiến sĩ, trong đó có 7 bia ghi các tiến sĩ đỗ các khoa thi ở Vạn Lại.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Sơ đồ Nhà Lê Trung Hưng &#8211; Chúa Trịnh &#8211; Chúa Nguyễn</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> (1533 &#8211; 1789)</em></p>
<p style="text-align: justify;"> VUA LÊ TRANG TÔNG (1533 &#8211; 1548)</p>
<p style="text-align: justify;">Vua tên húy là Lê Ninh, con trai của Chiêu Tông, mẹ là Gia Khánh Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Quỳnh, người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh giờ Tỵ ngày 15 tháng 10 năm Tân Sửu. Bây giờ Đăng Dung tiếm ngôi, mẹ lánh nạn vào ở sách Trung Lập, huyện Nông Cống, sống ở nhà Lê Lan.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyễn Kim nuôi dưỡng sĩ tốt, chiêu hiền đói sỹ, ngầm sai người tỡm con chỏu nhà Lờ để lập ngụi, rồi tỡm được Lê Ninh là con của Chiêu Tông, bèn đón sang Ai Lao.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Quý Tỵ (1533), ngày 18 tháng 2, tôn Lê Ninh lên ngôi, đổi niên hiệu một lần là Nguyên Hòa, 16 năm, bắt đầu từ năm Nhâm Thân.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm sau vua tôn Đại tướng quân Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư, Hưng Quốc công, Chưởng nội ngoại, kết giao với vua Ai Lao, nhờ họ giúp đỡ binh lương để mưu đồ việc lấy lại nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 27 tháng 2, chư quân đón Vua về Cố đô. Ngày 17 tháng 10 về tới Lam Sơn, lập doanh trại ở các phường như Dao Xá, phụng sự tôn điện, dựng nhà Thái Miếu ở xứ Du Tiên, thôn Tiền, chiêu tập các phường ở Lam Sơn, chỉ còn các phường như: Lam Sơn, Hưng Khánh, Phúc Lâm, Dao Xá phụng thờ Tôn điện. Vua ban sắc cho các phường là &#8220;Nội phụng nhiêu dân&#8221;, vẫn tuân theo lệ cũ. Mệnh cho Lê Văn Tích Thôn Dao Xá làm Hương quan; Trịnh Văn Khải phường Lam Sơn làm Hương sư, biên chép số người và số ruộng của bản hương, cùng số hộ của các xã đúng như cựu điền.</p>
<p style="text-align: justify;"> Ngày rằm năm Bính Tý, Vua lập hành cung tại sách Vạn Lại, Lạng Quốc công (Trịnh Kiểm) tới báo tin thắng trận, Ái Châu (Thanh Hóa) đó dẹp yên.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 29 tháng giêng năm Mậu Thân (1548), Vua băng hà ở ngôi được 6 năm, thọ 34 tuổi, táng ở Cảnh Bằng sách Trung Lập, Lam Sơn. Dâng tôn hiệu: Dụ Hoàng đế, miếu hiệu là Trang Tông. Sinh con là Lê Giản, tức Trung Tông.</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2715" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073712-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073712-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073712-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073712-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073712-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073712-2048x1536.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">  TRUNG TÔNG VŨ HOÀNG ĐẾ</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lê Trung tông là vị vua thứ hai của triều Lê Trung Hưng. Vua huý là Lê Duy Huyên, miếu hiệu Trung tông Vũ hoàng đế, là con trưởng của vua Trang tông, mẹ là Trinh Thục Hoàng thái hậu Lê Thị Ngọc Tông, người xã Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh giờ Hợi, ngày 6 tháng 12 năm 1533, lên ngôi ngày 13 tháng 2 năm 1548 ở sách Vạn Lại đặt niên hiệu là Thuận Bình, phong cho Trịnh Kiểm là Lương Quốc Công quyết định mọi việc triều chính.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Quý Sửu (1553), Vua rời hành cung về An Trường.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 24 tháng Giêng năm Bính Thìn ( 1556) Vua băng, không có  con nối ngôi, ở ngôi 8 năm, thọ 23 tuổi, táng ở Dụ lăng, Dao Xá, Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;"> VUA LÊ ANH TÔNG</p>
<p style="text-align: justify;">(1556 &#8211; 1573)</p>
<p style="text-align: justify;"> Vua Lê Anh Tông tên húy là Duy Bang, cháu 5 đời của Lê Trừ, anh thứ hai của Lê Thái Tổ, Lê Trừ sinh ra Lê Khang, Khang sinh ra Thọ, Thọ sinh ra Duy Thiệu, Duy Thiệu sinh ra Duy Khoáng. Duy Khoáng lấy vợ người hương Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sinh ra Lê Duy Bang (Lê Anh Tông).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lê Anh Tông sinh năm Nhâm Thân (1532). Khi Lê Trung Tông mất, không có con nối dõi, thái sư Trịnh Kiểm cùng các đại thần tìm được Lê Duy Bang đang sống ở hương Bố Vệ đó đón về lập làm vua. Vua Lê Anh Tông lên ngôi năm Bính Thìn (1556), khi đó ông đó 25 tuổi, trong thời gian ở ngôi, Lê Trung Tông đặt niên hiệu 3 lần: Thiên Hựu từ năm 1556 &#8211; 1557, Chính Trị từ năm 1558 &#8211; 1571, Hồng Phúc từ 1572 &#8211; 1573.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi Trịnh Kiểm còn sống mọi quyền hành trong triều đều do Trịnh Kiểm quyết định, vua chỉ việc nghe theo. Các trận đánh lớn với quân Mạc đều do Trịnh Kiểm chia quân điều khiển, ngay cả khi Lê Duy Hàn là em vua ngầm có chí khác lẻn vào cung lấy trộm ấn báu, bị bắt, vua xá tội cho, đến khi Duy Hàn phạm tội giết người, vua cũng giao cho thái sư Trịnh Kiểm toàn quyền xét xử.</p>
<p style="text-align: justify;">Tháng 2 năm Canh Ngọ (1570) Trịnh Kiểm ốm nặng rồi mất. Anh em Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành nhau quyền bính, lúc này tình hình nhà Lê bị chia rẽ và suy yếu, nhưng vua Lê Anh Tông đó trực tiếp điều hành, dàn xếp mâu thuẫn này. Các tướng nhà Lê như Lê Cập Đệ cũng tỏ ra có năng lực lập được nhiều chiến công. Lê Anh Tông cũng đó cú nhiều lần cầm quân ra trận. Mặc dự vậy nhưng Lê Anh Tông vẫn tín nhiệm và trao quyền hành cao nhất cho Trịnh Tùng tước trưởng quận công, nắm giữ binh quyền, nhưng nhiều lần vua vẫn làm đô tướng thống đốc đại binh đem quân cùng Trịnh Tùng ra đánh nhà Mạc ở phía bắc. Do vậy quan hệ giữa vua và chúa có phần hòa thuận. Sang tháng 3 năm Nhâm Thân (1572) Lê Cập Đệ ngầm có chí khác rủ Trịnh Tùng đi thuyền ra giữa sông mưu giết, Trịnh Tùng biết được nên việc không thành, từ đó hai nhà Lê Trịnh thù oán nhau. Bên ngoài tỏ ra hợp sức với nhau để đánh Mạc nhưng bên trong vẫn đề phòng. Sau đó Trịnh Tùng lập mưu giết Lê Cập Đệ, một số quần thần như Cảnh Hấp và Đinh Ngạn nói với vua rằng: Tả tướng nắm binh quyền to như vậy bệ hạ khó lòng đứng được, vua nghe nói thế vừa sợ vừa ngờ, bèn ban đêm chạy ra ngoài cùng 4 hoàng tử, chạy vào Nghệ An năm 1572. Trịnh tùng cùng với bề tôi lập con thứ 5 của vua là Lê Duy Đàm lên làm vua và sai Nguyễn Hữu Liên đi đón vua cũ về (Lê Anh Tông). Ngày 22 tháng giêng năm Nhâm Thân vua về tới xã Đỗ Xá, huyện Nông Cống thì Trịnh Tùng sai người thắt cổ giết chết vua, vua ở ngôi 17 năm thọ 42 tuổi, táng ở lăng Hoa Cao, thôn Trịnh Xá, xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lê Anh Tông sinh được 5 người con trai 1 người con gái, trưởng nam là Lê Duy Sách tức Chủ Sản, mẹ là Lê Thị Ngọc Quế người xã Tam Lư, huyện Lôi Dương, sinh 2 con trai 1 con gái; thứ nam là Lê Duy Lựu, thứ 3 là Lê Duy Ngạch, mẹ là Lê Thị Ngọc Bền, người sách Nông Vụ. Thứ 4 là Lê Duy Tùng, thứ 5 là Lê Duy Đàm (Lê Thế Tông); Trưởng nữ là Ngọc Lễ (theo Hoàng Đình Phùng).</p>
<p style="text-align: justify;">Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng: Vua Lê Anh Tông nhờ huân thần tôn lập, mưu cuộc trung tâm, thật là mệnh trời trao cho vậy, song sự nghiệp chưa xong một nửa, lòng nghi hoặc dần nảy sinh, chỉ tin lời dèm pha mà siêu bạt ra ngoài, thương thay!</p>
<p style="text-align: justify;">                                                    <img decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2714" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073306-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073306-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073306-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073306-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073306-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180928073306-2048x1536.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">  VUA LÊ THẾ TÔNG (1573-1599)</p>
<p style="text-align: justify;"> Vua huý là Duy Đàm, là con út của vua Anh Tông, mẹ là Tuy Khánh Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Diễm, là ngư­­ời xã Bố Vệ, huyện Đông sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh ngày 12 tháng 11 năm Đinh Mão, niên hiệu Chính trị thứ 10 (1567), mất năm Kỷ Hợi 1599 là vị <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Vua">vua</a> thứ tư <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA">nhà</a> Hậu Lê vào thời Lê Trung Hưng của <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam">Việt Nam</a>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tháng Giêng năm Quý Dậu (1573) được <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_T%C3%B9ng">Trịnh Tùng</a> đưa lên ngôi vua, (trước khi sai Tống Đức Vị sát hại vua <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Anh_T%C3%B4ng">Lê Anh Tông</a> (Duy Bang).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Thế Tụng cai trị trong thời kỳ mà Trịnh Tùng đó chiếm được kinh thành từ tay nhà Mạc. Kể từ đây, quyền lực thực sự đó rơi vào tay Trịnh Tùng, vua không có thực quyền trong tay, bắt đầu thời kỳ được gọi là thời Vua Lê &#8211; chúa Trịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Hợi <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1599">1599</a>, vua Thế Tông mất, ở ngôi được 26 năm, thọ 33 tuổi táng ở Hoa Nhạc lăng tại Đông Sơn, Thanh Hoá.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh đư­­ợc 2 con trai và 4 con gái. Trư­­ởng là Duy Từ (mất ngày 29 tháng Giêng, mẹ là Ngọc Sơn Uy Lê Thị Đoan). Thứ là Duy Tân (tức vua Kính Tông). Trưởng nữ là Ngọc Ph­­ương, thứ là Ngọc Địch, ba là Ngọc Đức, út là Ngọc Tham, cùng mẹ với Duy Trừ.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời gian ở ngôi, Lê Thế Tông đó đặt hai niên hiệu</p>
<p style="text-align: justify;">* Gia Thái (1573-1577)</p>
<p style="text-align: justify;">* Quang Hưng (1578-1599)</p>
<p style="text-align: justify;"> LÊ KÍNH TÔNG- KÍNH TÔNG DUỆ HOÀNG ĐẾ( 1600- 1619)</p>
<p style="text-align: justify;"> Niên hiệu: &#8211; Thuận Đức( 1600)</p>
<p style="text-align: justify;">                  &#8211;  Hoằng Địch( 1601- 1619)</p>
<p style="text-align: justify;"> &#8221; Thành tổ Triết Vương( Trịnh Tùng) tôn lập&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lê Kính tông, húy là Duy Tân, con thứ của Thế tông. Mẹ là Y Đức Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Minh, người xã Duy Tinh, huyện Hậu Lộc.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh ngày 29 tháng 02 năm Mậu Tý( 1588). Bình An Vương Trịnh Tùng cùng với triều thần cho rằng Thái tử Trì( anh trai của Duy Tân) là người không thông minh, bèn lập con thứ( Duy Tân) lên làm vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Kỷ Hợi( 1599), vua lên ngôi, bấy giờ mới 12 tuổi đổi niên hiệu 2 lần, Thuận Đức( 1600) và Hoằng Địch  bắt đầu từ năm Đinh Sửu( 1601).</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 12 tháng 5 năm Kỷ Mùi( 1619) vua băng, ở ngôi 20 năm, thọ 32 tuổi, vua sinh được 3 người con trai và 2 người con gái, táng ở lăng Hoa Man, thôn Tịnh Xá, xã Bố Vệ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Đức Long thứ 4( 1632), truy tôn là Kính Tông Huệ Hoàng Đế./</p>
<p style="text-align: justify;"> THẦN TÔNG UYÊN HOÀNG ĐẾ (1619 -1643)</p>
<p style="text-align: justify;"> Vua tên húy là Duy Kỳ, con trai trưởng của Kính Tông, mẹ là Đoan Từ hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, là con gái thứ 2 của Thượng phụ Bình An Vương. Vua sinh giờ Tý ngày 19 tháng 11 năm Đinh Mùi, niên hiệu Hoằng Định năm thứ 8 (1607). Đến năm Kỷ Mùi (1619), ngày 2 tháng 6 vua lên ngôi ở điện Cần Chính. Lấy ngày sinh làm ngày thọ dương thánh tiết. Vua ở ngôi 2 lần.</p>
<p style="text-align: justify;">Lần thứ nhất ở ngôi 24 năm, bắt đầu từ năm Kỷ Mùi (1619) đến năm 1643. Đổi niên hiệu 3 lần: Vĩnh Tộ 11 năm (1619-1628); Đức Long 7 năm (1629-1634); Dương Hòa 9 năm (1634-1643). Sau đó nhường ngôi cho con là Chân Tông 6 năm (bắt đầu từ năm 1643-1649).</p>
<p style="text-align: justify;">Lần thứ hai vua ở ngôi 13 năm (từ 1649-1662). Đổi niên hiệu 4 lần: Khánh Đức 4 năm (1649-1653); Đức Thịnh 5 năm (1653-1658); Vĩnh Thọ 3 năm (1658-1661); Vạn Khánh 1 năm (1662).</p>
<p style="text-align: justify;">Đến ngày 22 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1662) vua băng, thọ 56 tuổi. Ở ngôi tất cả 37 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi băng hà, vua được an táng ở Ngọc Lăng- xã Quần Lai, huyện Lôi Dương (ngày nay thuộc xã Thọ Diên &#8211; huyện Thọ Xuân- Tỉnh Thanh Hóa). Dâng tôn hiệu: Uyên Hoàng đế. Miếu hiệu: Thần Tông.</p>
<p style="text-align: justify;">Sách Đại việt sử kí toàn thư có lời bình rằng: &#8221; Vua sống mũi cao, mặt rồng, thông minh học rộng, mưu lược sâu, văn chương giỏi, xứng đáng là bậc vua giỏi&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh được 4 trai, 6 gái và 2 người con nuôi. Trai trưởng là Duy Hựu (tức vua Chân Tông); thứ là Duy Vũ (tức vua Huyền Tông); 3 là Duy Cối (tức vua Gia Tông); 4 là Duy Du (tức Hi Tông).</p>
<p style="text-align: justify;"> Tài liệu tham khảo:</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Đại việt sử kí toàn thư ( tập 3). Nxb Khoa học xã hội, năm 2009.</li>
<li>Tiền Lê &#8211; Hậu Lê. Nxb Thanh Hóa, năm 2011.</li>
<li>Lê triều ngọc phả tập ký.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;"> VUA LÊ CHÂN TÔNG (1643-1651); Niên hiệu: Phúc Thái</p>
<p style="text-align: justify;">Lê Chân Tông húy là Duy Hựu còn có tên là Duy Hiệu, con trư­ởng của Thần Tông, mẹ là minh phục Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Bạch là ngư­ời xã Hoàng Sách, huyện Gia Viễn.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh giờ tỵ, ngày 19 tháng 9 năm Tân Mùi 1631. Ngày 3 tháng 10 năm Quý Mùi 1643 lên ngôi, đổi niên hiệu một lần là Phúc Thái 7 năm, bắt đầu từ năm Quý Mùi.</p>
<p style="text-align: justify;"> Mùa hạ tháng 4 ngày 19 mọi công việc nhà n­ước đều giao cho Trịnh Tạc xử quyết.</p>
<p style="text-align: justify;"> Năm Phúc Thái thứ 4 (1646) vua Minh cho sứ thần sang phong cho Thái thư­ợng hoàng làm An Nam Quốc vư­ơng.</p>
<p style="text-align: justify;"> Năm Kỷ Sửu 1651, ngày 26 tháng 8 vua băng, không có con nối dõi. Vua ở ngôi 7 năm thọ 20 tuổi. Rư­ớc thần chủ ở Thái miếu, miếu hiệu Chân Tông.</p>
<p style="text-align: justify;">HUYỀN TÔNG MỤC HOÀNG ĐẾ (1663 &#8211; 1671)</p>
<p style="text-align: justify;"> Vua có tên húy là Duy Vũ, con trai thứ của Thần Tông, em của Chân Tông, mẹ là Phạm Thị Ngọc Hậu (giỗ ngày 2 tháng 6, táng ở bản xã) người làng Qủa Nhuệ, huyện Lôi Dương (nay là xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân) tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh ngày 20 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1654), ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Dần (1662) lên ngôi vua, lấy ngày sinh làm ngày Đoan Minh Khánh Tiết, lấy niên hiệu 1 lần là Cảnh Trị (1662 &#8211; 1671) 9 năm, bắt đầu từ năm Nhâm Dần (1662).</p>
<p style="text-align: justify;">Lời bàn: &#8220;Vua tính trời nhân hậu, vẻ người nghiêm tĩnh, những năm ở ngôi, trong nước trị yên, thóc lúa được mùa cũng đáng gọi là bậc vua hiền. Nhưng vua ở ngôi không được lâu dài, đây là một điều rất đáng tiếc&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Giáp Thìn (1664) tháng 2, Vua ban cho Vương theo điển lễ đặc biệt không phải lạy. Khi vào chầu được đặt riêng một chiếc phản ở bên phải ngự thất.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 15 tháng 10 năm Tân Hợi (1671), giờ Tỵ ngày 15 tháng 10, vua băng hà không có con nối dõi ở ngôi 9 năm. Thọ 18 tuổi, táng ở lăng Cảnh Thịnh, huyện Lôi Dương, xây điện Càn Long phụng thờ. Dâng tên thụy là: Khoát đạt, Duệ thông, Cương minh, Trung chính, Ôn nhi, Hòa lạc, Khâm minh, Văn tứ, Doãn cung Tắc nhượng, Mục Hoàng đế. Miếu hiệu Huyền Tông.</p>
<p style="text-align: justify;">  GIA TÔNG MỸ HOÀNG ĐẾ</p>
<p style="text-align: justify;"> Vua húy là Duy Cối, con thứ ba của vua Lê Thần Tông. Mẹ là Chiêu Nghi Lê Thị Ngọc Hoàn, người xã Phúc Lôc, huyện Thụy Nguyên.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh vào giờ Hợi ngày 4 tháng 4 năm Tân Sửu (1661) là em vua Lê Huyền Tông. Khi Thần Tông băng, Hoàng thái tử Duy Cối mới lên 2 tuổi. Duy Cối được Trịnh Tạc và chính phi Trịnh Thị Ngọc Lung đón về nuôi ở trong phủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi vua Huyền Tông qua đời không có con nối nghiệp, Chúa Trịnh cùng các triều thần văn võ lập Duy Cối lên ngôi, lúc đó vua mới 11 tuổi. Vua làm lễ đăng quang vào ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671), lấy ngày sinh nhật làm ngày Thọ Dương thánh tiết đổi niên hiệu hai lần:</p>
<p style="text-align: justify;">Dương Đức: từ năm (1672) đến (1674)</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Nguyên: từ tháng 10 năm Giáp Dần (1674 đến 1675)</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ất Mão (1675), giờ Mùi ngày 3 tháng 4 vua băng, thọ 15 tuổi, ở ngôi được 4 năm. Sau khi mất được an táng ở lăng Phúc An (xã Phúc Lộc huyện Thụy Nguyên). Chiều đình cho xây điện thiên Ninh phụng thờ. Dâng tôn thụy là;</p>
<p style="text-align: justify;"> Khoan Minh Mẫn Đạt, Anh Quả Huy Phu, Khắc Nhân Vi Nghĩa Mỹ Hoàng Đế Miếu hiệu Gia Tông./.</p>
<p style="text-align: justify;">  VUA LÊ HY TÔNG (1676 &#8211; 1705)</p>
<p style="text-align: justify;">Lê Hy Tông còn có tên là Duy Cát, Duy Hợp là con thứ của Lê Thần Tông, mẹ là Trịnh Thị Ngọc Trúc hay Trịnh Thị Ngọc Tấn, sinh ra sau khi vua cha đã mất (tháng 9 năm 1662) khoảng 5 tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo ghi chép của Khâm định Việt sử Thông giám C­ương mục. Mẹ ông ng­ười ở xã Đông Khối, huyện Gia Đình (tức huyện Gia Bình sau này). Trước khi qua đời, Lê Thần Tông dặn Tây vư­ơng Trịnh Tạc trông nom giúp đỡ ngư­ời con sắp ra đời, sau này cho Lê Duy Cát (Duy Hợp) nối ngôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc Duy Cát mới 13 tuổi, đ­ợc Tây vư­ơng phò lên ngôi vua từ tháng 6 năm 1675. Lấy ngày sinh làm Thiên minh thánh tiết. Lúc này chiến tranh với họ Nguyễn ở Miền Nam đã chấm dứt, cả hai miền lo củng cố nội trị. Nhà vua tuân giữ cơ nghiệp sẵn có, rũ tay áo mà h­ưởng cuộc thịnh trị, kỷ cương thì chấn hư­ng, thư­ởng phạt thì nghiêm túc và công minh, phần nhiều các công khanh đều xứng đáng với chức vụ, trăm quan kính giữ phép tắc chế độ, nhân dân yên nghiệp làm ăn.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là các năm d­ưới niên hiệu Vĩnh Trị (1676 &#8211; 1680) và Chính Hòa (1681 &#8211; 1705).</p>
<p style="text-align: justify;">Thời kỳ Lê Hy Tông làm vua đ­ược ng­ời đời bấy giờ ca ngợi là thời thịnh trị bậc nhất thời Trung h­ưng,</p>
<p style="text-align: justify;"> Sau 30 năm làm vua, tháng 4 năm Ất Dậu (1705). Lê Hy Tông truyền ngôi cho Hoàng thái tử là Lê Duy Đ­ường lên làm Thái Th­ượng hoàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tháng 4 năm 1716 Lê Hy Tông băng hà hư­ởng thọ 74 tuổi táng tại Phú lăng làng Phúc Lâm, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. R­ước thần chủ thờ ở Thái miếu, miếu hiệu Hy Tông.</p>
<p style="text-align: justify;"> DỤ TÔNG HOÀ HOÀNG ĐẾ</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lê Dụ Tông huý là Duy Đ­ường sinh ngày 08 tháng 10 năm 1680 là con trư­ởng của vua Lê Hy Tông mẹ là Ôn Từ Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Đệ, ngư­ời làng Sùng Quân, huyện Đông Ngàn (nay thuộc tỉnh Bắc Giang).</p>
<p style="text-align: justify;"> Ngày 17 tháng 01 năm Ất Dậu (1705) Vua lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Vĩnh Thịnh và Thái Bảo (1705 &#8211; 1729).</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1729 như­ờng ngôi cho con là Duy Ph­ường làm Thái th­ượng hoàng 2 năm  rồi băng hà vào ngày 20 tháng giêng năm Tân Hợi (1731) hư­ởng thọ 52 tuổi, Dâng tôn hiệu là Hoà Hoàng đế, Miếu hiệu Dụ Tông. Vua đ­ược táng ở lăng Cổ Đô huyện Đông Sơn (nay là xã Thiệu Đô huyện Thiệu Hoá) sau di táng về thôn Bái Trạch xã Bàn Thạch huyện Lôi Dư­ơng (nay thuộc xã xuân Giang huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá). Lăng Vua Lê Dụ Tông nằm cách trung tâm di tích lịch sử Lam Kinh 17km về phía Đông Nam, cách thị trấn Thọ Xuân 3km phía Đông Nam.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự nghiệp vua Lê Dụ Tông trong Lịch triều hiến chư­ơng loại chí của Phan Huy Chú có ghi: &#8220;Triều đại vua Lê Dụ Tông kỷ c­ương vững vàng hoàn bí&#8221;. Đời vua  khi đất nư­ớc t­ương đối thái bình, hình phạt bị giảm nhẹ (bỏ hình phạt chặt chân, tay).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong 24 năm ở ngôi nhà vua đã cho mở tr­ường Quốc học và H­ương học, đặt học quan để lo việc dạy dỗ, lại cấp ruộng đất cho nhà tr­ường để lấy hoa lợi chi phí. Lấy lại mỏ đồng Tụ Long lập đồng trụ làm mốc giới. Cấm quan quân không được đánh cờ bạc, uống r­ượu, đặt ra hình phạt nghiêm khắc đối với những kẻ gá bạc, đánh bạc, uống rư­ợu và chứa gái bất luận là quan, quân hay dân đều phải phạt tiền hơn kém khác nhau. Phải thu và tiêu huỷ hết các văn tự làm giả mạo, hễ viên quan nào hoặc kẻ nào đã dự cuộc đánh bạc biết ra tự thú tr­ớc thì đ­ợc miễn phạt. Xã trư­ởng và ph­ường tr­ưởng có biết mà không tố cáo cũng bị luận phạt, viên quan đi khám xét mà cho hoà giải sẽ bị khép vào tội xuề xoà.</p>
<p style="text-align: justify;">Đánh giá về vua Lê Dụ Tông sách lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãnh ghi: Bấy giờ vua thừa h­ưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy ra binh đao, trong n­ớc vô sự, triều đình có làm đ­ược nhiều việc, pháp độ đ­ược rất đầy đủ, kỷ c­ương thi hành được hết. Xứ xa lạ thi dâng lễ vật tỏ lòng thành, th­ợng quốc thì trả lại đất, có thể gọi là đời cực thi thịnh, nhà vua rủ tay áo ngồi ở trên, không phải khó nhọc mà mọi việc đâu ra đấy. Khi nói đến cuộc thịnh trị ở thời bấy giờ ng­ời ta tất phải kể đến đời vua này&#8217;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2713" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180927074745-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180927074745-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180927074745-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180927074745-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180927074745-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/IMG20180927074745-2048x1536.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">VĨNH KHÁNH ĐẾ ( LÊ DUY PHƯỜNG)</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Lê Duy Phường, con trai thứ của vua Lê Dụ tông, mẹ là Trịnh Thị Tráng ( con gái Lương Mục Vương). Ông sinh năm 1709, đến năm 1729 Duy Phường được lập lên ngôi vua lấy ngày sinh làm ngày Tường Minh Khánh Tiết, đặt niên hiệu là vĩnh Khánh 4 năm và phong cha mình làm Thái Thượng Hoàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi lên ngôi, ông đã ban bố lời chiếu khá dài nói về công lao khai sáng của lê Thái tổ, công cuộc trung hưng và vai trò của các chúa Trịnh.</p>
<p style="text-align: justify;"> Tháng Giêng năm 1731, sau khi Thượng Hoàng Lê Dụ tông băng hà, trong triều đình đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đến tháng 8 năm 1732 vua Lê Duy Phường bị chúa Trịnh Giang phế làm Hôn Đức Công, đến năm 1735 vua băng hà, ở ngôi 6 năm, thọ 26 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Canh Thân ( 1740), làm lễ chiêu hồn tại xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì. Vua sinh được 2 con trai, trưởng là Diệu, thứ là Hiên.</p>
<p style="text-align: justify;">THUẦN TÔNG GIẢN HOÀNG ĐẾ</p>
<p style="text-align: justify;">Vua huý là Duy Tường, con trưởng của Dụ Tông, anh của Duy phường. Mẹ là Trang Từ Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Niêm( sinh ngày 14 tháng 4, mất ngày 29 tháng 11 năm Ất Mão. Táng tại bản xã sau dời về táng ở Bố Vệ dựng điện tại bản xã phụng thờ).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Mão( 1699), lên ngôi năm Nhâm Tý (1732), lấy niên hiệu là Long Đức. Vua băng hà ngày 15 tháng 4 năm ất Mão( 1735) ở ngôi 4 năm thọ 37 tuổi. Táng tại lăng Bình Ngô, huyện Thuỵ Nguyên. Dâng tôn hiệu: Giản hoàng đế.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua có thiên tư tinh thần đoan trang, thanh cao, hoà kính. tuy ngày là vua được ít nhưng nhờ có chúa giúp rập chính thống nên cơ đồ thấn thánh trở về vua nối, truyền đế lâu đời. Kinh Thi có câu rằng:&#8221; Thụ mệnh bất đãi, tại Vũ Đinh tôn tử&#8221; nghĩa là:&#8221; Chịu mệnh trời không nguy, lại truyền cho con cho cháu Vũ Đinh&#8221;. Vua cũng như lời thơ ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh được 4 con trai 4gái. Trưởng là Duy diêu (tức Hiển Tông) thứ là Duy Đàm, ba là Duy Hiên, út là Duy Du. Trưởng nữ là Ngọc Toán, thứ là Ngọc tri, ba là Ngọc Tích bốn là Ngọc Canh</p>
<p style="text-align: justify;"> Ý TÔNG HUY HOÀNG ĐẾ (1735 &#8211; 1740)</p>
<p style="text-align: justify;">Vua huý là Duy Thìn, con thứ của Lê Dụ Tông, em ruột của Lê Thuần Tông (Lê Duy T­ông). Thân mẫu là Hiên Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Sắc, ngư­ời xã Bạc Nhuế, huyện Yên Phong.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh ngày 9 tháng 2 năm Kỷ Hợi (1719), lên ngôi ngày 27 tháng 4 năm Ất Mão (1735). Sau khi lên ngôi, Vua lấy ngày sinh nhật làm ngày Xuân Hồn Thánh Tiết. Đổi niên hiệu một lần là Vĩnh Hựu ở ngôi 6 năm (1735 &#8211; 1740).</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Canh Thân (1740), như­ờng ngôi cho cháu là Duy Diêu và tôn Vua làm Thái Th­ượng hoàng ngự ở điện Càn Thọ 19 năm (1740 &#8211; 1759).</p>
<p style="text-align: justify;">Giờ Ngọ ngày 8 tháng 6 nhuận năm Kỷ Mão (1759), Vua băng hà, thọ 41 tuổi. Táng ở lăng Phù Lê, huyện Thuỵ Nguyên. Dâng tôn hiệu là Huy Hoàng đế, miếu hiệu Ý Tông.</p>
<p style="text-align: justify;">HIỂN TÔNG VĨNH HOÀNG ĐẾ (1740 &#8211; 1786)</p>
<p style="text-align: justify;">Vua huý là Duy Diệu, con trư­ởng của Lê Thuần Tông, gọi Vua Lê Ý Tông là chú ruột, đ­ược Lê Ý Tông truyền ngôi cho. Thân mẫu là Nhu Thân Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc L­ương, ngư­ời xã Bảo Vực, huyện Văn Giang (tỉnh H­ưng Yên).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh giờ Ngọ, ngày 10 tháng 4 năm Đinh Dậu (1717). Lên ngôi ngày 21 tháng 5 năm Canh Thân (1740), khi ấy Vua 23 tuổi, là dòng đích kế nối đại thống. Lấy ngày sinh nhật làm ngày Thanh Hoà Thánh Tiết. Đổi niên hiệu một lần là Cảnh H­ưng 47 năm bắt đầu từ năm Canh Thân (1740).</p>
<p style="text-align: justify;">Năm ấy, nhà Thanh sai sứ sang phong cho Vua là An Nam Quốc Vư­ơng.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Kỷ Sửu (1769), Thái tử Duy Vĩ bị Tĩnh V­ương giết, lại bắt giam cả Trưởng Hoàng tôn vào ngục và lập hoàng tử thứ năm là Duy Cận làm Thái tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Nhâm Dần (1782), ngày 15 tháng 10, ba quân lại ủng hộ Trư­ởng Hoàng tôn về nội điện và lập Hoàng tôn là­ Khiêm nối ngôi. Giáng Duy Cận làm Sùng Nh­ược Công.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 15 tháng 7, Vua ngự coi triều thống nhất, văn võ bá quan đều tung hô vạn tuế ba lần. Bấy giờ Vua 70 tuổi, gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.</p>
<p style="text-align: justify;"> Ngày 17 tháng 7 năm 1786, Vua băng hà, ở ngôi 47 năm, thọ 70 tuổi. Táng ở lăng Bàn Thạch, huyện Lôi D­ương. Dâng tôn hiệu là Vĩnh Hoàng đế. Miếu hiệu là Hiển Tông</p>
<p style="text-align: justify;"> LÊ CHIÊU THỐNG  (1786-1789)</p>
<p style="text-align: justify;">Lê Chiêu Thống tên thật là Lê Duy Khiêm sau khi lên ngôi đổi tên là Lê Duy Kỳ, là vua thứ 16 cũng là ông vua cuối cùng của triều Lê Trung Hưng, ở ngôi từ cuối tháng 7 âm lịch năm 1786 đến tháng giêng năm 1789. Là con trưởng của thái tử cũ Duy Vi ( truy tôn Hựu Tông Diễn hoàng đế giỗ ngày 21 tháng 2).</p>
<p style="text-align: justify;">Vua sinh ngày 22 tháng 9 năm Bính Tuất (1766) lên ngôi ngày 27 tháng 7 năm Bính Ngọ đổi niên hiệu một lần Chiêu Thống 4 năm bắt đầu từ năm Bính Ngọ(1786). Ngày 1tháng 9 năm Đinh Mùi 1787 vua Quang Trung tiến quân ra kinh thành Vua Chiêu Thống chạy lên Kinh bắc, cử người sang cầu viện quân Thanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57(1792) con trai chết, Chiêu Thống thất vọng chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 âm lịch năm 1793 tức năm Quý Sửu, Vua băng hà, ở ngôi 4 năm thọ 28 tuổi táng tạm ở Bắc Kinh, nhà Thanh lại phong cho Duy An được kế tập chức đó quản lý người bản quốc (An Nam).</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 21 tháng 9 năm Giáp Tý (1804) Duy An cùng vợ con theo vua tòng vong trở về. Rước linh cữu của Vua, Thái Hậu và nguyên tử về táng ở Bàn Thạch huyện Lôi Dương nay thuộc Thọ Xuân- Thanh Hoá. Lê Chiêu Thống không cón tôn hiệu, miếu hiệu. Nguyễn Ánh( Gia Long) lên ngôi năm 1802 đã lấy một phần vạt liệu ở Đông Kinh Thằng Long hà Nội và một phần vật liệu ở Lam Kinh về xây đền nhà Lê ở Bố Vệ- Thành phố Thanh Hoá và bài vị của Vua cũng được đưa về đặt trên bàn thờ. Vua sinh được 2 người con một trai, một gái, trưởng là Thuyên mất sớm ở Bắc quốc, nữ là Ngọc Nga ở lại Bắc quốc không có con.</p>
<p style="text-align: justify;"> <strong><em>Nguồn ditichlamkinh.vn</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/trieu-da%cc%a3i-ha%cc%a3u-le-le-trung-hung-1533-1789/">Triều đại Hậu Lê – Lê Trung Hưng (1533 &#8211; 1789)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/trieu-da%cc%a3i-ha%cc%a3u-le-le-trung-hung-1533-1789/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chúc văn Khánh thành đền thờ nữ tướng Lê Chân ở Đông Triều, Quảng Ninh</title>
		<link>https://holevietnam.vn/chuc-van-khanh-thanh-den-tho-nu-tuong-le-chan-o-dong-trieu-quang-ninh/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/chuc-van-khanh-thanh-den-tho-nu-tuong-le-chan-o-dong-trieu-quang-ninh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[canhnhac]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Apr 2021 08:27:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<category><![CDATA[Tư liệu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2043</guid>

					<description><![CDATA[<p>Duy tuế thứ 76 Việt Nam quốc, Quảng Ninh tỉnh, Đông Triều thị xã,  Thủy An xã , An Biên thôn, tại bản Đền,  Kính lạy:  Hoàng Thiên Hậu thổ, Thành hoàng bản cảnh chư vị tôn thần: Thổ công thổ phủ, Long mạch thổ thần; Các quan Đương Niên cai Thái tuế chí đức tôn thần...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/chuc-van-khanh-thanh-den-tho-nu-tuong-le-chan-o-dong-trieu-quang-ninh/">Chúc văn Khánh thành đền thờ nữ tướng Lê Chân ở Đông Triều, Quảng Ninh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Duy tuế thứ 76<br />
</span></span>Việt Nam quốc, Quảng Ninh tỉnh, Đông Triều thị xã,</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Th</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ủy An xã , An Biên thôn, tại bản Đền,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Kính lạy:  Hoàng Thiên Hậu thổ, Thành hoàng bản cảnh chư vị tôn thần: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thổ công thổ phủ, Long mạch thổ thần; </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Các quan Đương Niên cai Thái tuế chí đức tôn thần c</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ai quản chăm sóc xứ này.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Kính cáo: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Anh linh Nữ Tướng Quốc Lê Chân, thần chủ bản đền,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đồng kính cáo:</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">  </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Anh linh Thân phụ, Thân mẫu, gia binh tùy tướng; </span></span>Anh linh anh hùng liệt sĩ con em quê hương An Biên,<br />
Hôm nay Ngày 19 tháng 3 năm Tân Sửu ( nhằm ngày 30/4/2021), t<span class="s3"><span class="bumpedFont15">rên mảnh đất quê hương hơn 2000 năm trước đã sinh ra Người</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, sau 30 tháng góp công góp của</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">chung sức đồng lòng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> của Đảng bộ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, chính quyền và nhân dân Đông Triều cùng bà con cô bác họ Lê</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, các doanh nhân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">khắp mọi miền đất nước. </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đến nay, c</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ông việc</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> xây dựng và tôn </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">tạo</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Đền </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">thờ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Nữ Tướng  đã được hoàn thành</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đền dựa</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> thế núi hình sông, v</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ới bốn phương tám hướng có Minh đường, Hậu quỷ, bề thế khang, Tả Thanh long, Hữu Bạch hổ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, tiền Chu tước hậu Huyền vũ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> muôn thuở vững vàng </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">thỏa</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> lòng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> ước ao,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">mong đợi</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">của cán bộ và </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">nhân dân Đông Triều</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, bà con họ Lê Việt N</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">am và bách gia trăm họ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span><br />
<span class="s5"><span class="bumpedFont15">Mây ngũ sắc vờn quanh chính điện, Xã tắc Sơn hà hun đúc khí</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15"> thiêng,<br />
</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Chí anh hùng</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15"> trải khắp giang sơn, Độc lập  &#8211; </span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Tự do sáng ngời chân lý.</span></span></p>
<p><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Đất Hải Phòng, lập thành hoàng lưu danh Nữ Tướng Quốc</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">.</span></span> quê An Biên, dựng thánh điện phụng thờ Mẫu Lê Chân.<br />
<span class="s3"><span class="bumpedFont15">Chúng con</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> hậu duệ họ Lê Việt Nam</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> cùng nhân dân địa phương</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">một lòng thành kính  sắm sanh lễ vật: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trầu rượu hương đăng, hoa tươi quả ngọt, bánh kẹo tiền vàng, chè thuốc Lợn quay xôi gấc, sản vật khắp vùng, Xiêm y M</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ũ áo, Ngựa hồng dâng lên trước á</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">n</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> tri ân  Nữ Tướng, thân phụ, thân mẫu cùng gia binh</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> tùy tướng</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Kính thỉnh: </span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">Anh linh </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thần chủ cùng thân phụ thân mẫu, gia binh tùy tướng</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đồng kính thỉnh :</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Anh hùng liệt sĩ con em quê hương An Biên</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, </span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Cùng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> chư vị tôn thần cai quản chăm sóc xứ này lai lâm trước án thụ hưởng Lễ vât</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span><br />
Nhớ khi xưa:</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Hai ngàn năm có lẻ, đất nước oằn mình dưới gót giặc phương Bắc xâm lăng,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Ách đô hộ trùm  lên đất</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Giao</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Chỉ, xuyên suốt chiều dài lịch sử ngàn năm. </span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Chân núi Vẻn, mảnh đất Khúc Dương, xứ </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đông gia đình</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> cụ Lê Đạo và Trần thị Châu chồng dạy học bốc thuốc trị bệnh, vợ chuyên cần canh cửi với nghề nông.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Tuổ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">i bóng xế chưa có tiếng cười </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">trẻ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> nhỏ. Mong có con nối nghiệp nối</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> dòng,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trời đất </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">động lòng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> không phụ tình người lương thiện chuyên </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">tâm </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">làm phúc</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Âm Dương giao hòa, thấp thoáng bóng hài nhi sau một buổi làm đồng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Chín tháng mười ngày mong đợi chờ trông,</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">đã đến giờ khai hoa nở nhụy.</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Giữa mùa xuân mà bầu</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> trời vần vũ, gió cuốn mây bay trời giải cơn nồng.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Tiếng Oa oa chào đời từ trong sườn núi,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> được mẹ cha đặt tên gọi Lê Chân</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Phận là gái mặt hoa da phấn</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">  &#8211; Mắt Phượng mày Ngài lanh lơi tinh thông.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Dò</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ng nước mát chảy từ lòng núi</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> d</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ưỡng làn da mái tóc, giọng hát hay tay đàn giỏi, tạo nên một nhi nữ hiền thục đoan trang.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Hạt thóc củ khoai chân núi Vẻn, con tép con tôm sông Đạm Thủy đã</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> chăm </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">nuôi  N</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">gười trở thành một phụ nữ toàn tài.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Khi tuổi </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">nhỏ: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Giúp</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> cha bốc thuốc </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">chữa bệnh</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> giúp dân</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Đỡ mẹ tay liềm hái, tằm tang cung cửi</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Tuổi thiếu niên: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thường xuyên</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> chèo thuyền, kiếm cung luyện tập</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Võ nghệ công năng sức khỏe phi thường.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Câu hát mẹ ru: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đố</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> ai nằm võng không đưa, Đố ai đố</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">t cháy ao bèo, đã giúp Người<br />
</span></span>Khước từ mọi đặc ân, quyết không chịu làm thân nô lệ.</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Lời dạy của cha: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trước cường quyền bạo lực, không khom lưng uốn gối, c</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">úi đầu. Một lòng vì nghĩa lớn vì dân.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Giặc phương Bắc dã man tàn độc</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, </span></span>Bắt gái đẹp về làm thê thiếp, diệt nam nhi để đồng hóa giống nòi.</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thái thú  Tô Định hiện nghuên hình l</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">òng lang dạ sói, sát hại mẹ cha khi không thu phục nổi Người.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Nợ nước thù nhà gánh nặng hai vai, Chưa đến tuổi trưởng thành Lê Chân đã phải xa quê tìm đường lập nghiệp.<br />
</span></span>Bến An Dương: Phát lau dọn cỏ, đắp đê ngăn Triều, bồi xa vượt thổ, cấy lúa trồng màu, tích trữ phòng cơ lương thực.<br />
<span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đất cửa Cấm : Mở lò đấu vật, luyện tập kiếm c</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ung</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, bơi thuyền rèn giá</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">o đúc tên</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> thành lập Quân Cơ </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">cùng nhau dấy nghĩa</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Tiếng tăm lừng lẫy, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">trên dưới </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">đội ngũ chỉnh tề chờ ngày khởi sự</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Uy tín vang xa, Dâ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">n chúng khắp vùng tụ t</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ập dưới trướng </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Lê Chân<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trống</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Mê Linh</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Hai bà</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">  Trưng </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">phất cờ khởi nghĩa</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> kêu gọi toàn dân<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Miền Hải Đồn</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Nữ Tướng dậy sóng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> căm thù, sục sôi ý chí.<br />
</span></span>Nợ nước báo đền gương sáng muôn năm truyền hậu thế,<br />
<span class="s5"><span class="bumpedFont15">Thù nhà mong trả, tâm nguyện đời đời nhắc cháu con</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">.<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Gác việc</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> triều chính</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> tình như thể mẹ con, chị em,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> với danh xưng: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thánh Chân Công Chúa<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Ngoài</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> chốn</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> công đường</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> nghĩa Vua – Tôi  trên dưới. Chưởng quản Binh quyền lĩnh ấn Tiên phong</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Khi lâm </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">trận</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, Lê Chân  hữu đột tả xun</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">g, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">trẻ già cùng quyết chí xô</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ng pha</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">quân Đông Hán hồn xiêu phách lạc</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.<br />
</span></span>Thế tiến công, trúc chẻ tro bay: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”,</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trên dưới đồng lòng phá vỡ mộng bành trướng xâm lăng.<br />
</span></span>Phá Đông Hán, góp sức xây nền độc lập,<span class="s5"><span class="bumpedFont15"> </span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">    </span></span></p>
<p><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Phò Trưng Vương, đồng tâm mở lối tự do</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trận Ô Lâu, giặc như ong vỡ tổ,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thái thú họ Tô cắt tóc cạo râu</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> thay hình đổi dạng mới mong thoát chết</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Bến Lãng Bạc, lấp suối ngăn sông chặn thủy binh. Phục Ba Mã Viện nhục nhã trước Nhi nữ Quần hồng..<br />
</span></span>Lược thao trọn vẹn, Nữ Tướng lừng danh Hồn Dân Việt,<br />
<span class="s5"><span class="bumpedFont15"> </span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Tâm sáng kiên trung, Thánh Chân rạng rỡ Tổ Vua Hùng.<br />
</span></span>Đông Hán  thế đường cùng, Mã Viện dùng kế Khuyển Dương:<br />
<span class="s3"><span class="bumpedFont15">Sai quân sĩ thoát y trở thành </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">lũ </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">người nguyên thủy,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Than ôi,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Vương triều non trẻ, phậ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">n Nữ nhi trước mộng xâm lăng của bè</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> lũ xúc sinh</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thế bất ngờ vận nước hết, dòng sông Hát hai vua gieo mình tuẫn tiết.<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Nữ tướng thu thập quân sĩ lui về Lạt Sơn tập kết</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,<br />
</span></span>Chưởng Quản binh quyền mong rửa hận non sông.</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Mộng chẳng thành, không để thân mình</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> rơi vào tay bọn giặc bất lương,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Nữ tướng gieo mình </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">nguồn</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> nước mát </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">dưỡng thi, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">bảo toàn khí tiết.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> </span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Dòng sông Đáy chiếc quan tài vĩnh cửu, mang theo thi hài Nữ Tướng xuôi ra cửa biển gặp cha Rồng.</span></span></p>
<p><span class="s5"><span class="bumpedFont15"> Trời nước Nam lòng lộng đón anh linh Thánh Chân công chúa lên không trung về với mẹ Tiên<br />
</span></span>Từ trước đến nay thời nào cũng có giặc ngoại xâm,<br />
Sau dựng nước ta phải cùng nhau giữ nước,Đất tuần dận vận &#8211; lúc thịnh khi suy.<span class="s3"><span class="bumpedFont15">  </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> </span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Song anh hùng hào kiệt thời nào cũng có.<br />
</span></span>Nước dẫu mất – Họ không thể mất.<br />
Nhà có tan – Nòi giống chẳng tan”</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Với đạo lý: </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Uống nước nhớ nguồn</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">&#8211; Ăn quả nhớ người trồng cây</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trong </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">sử sách và</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> trong tiềm thức, hình ảnh Nữ tướng cùng các anh hùng hào kiệt</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> luôn in đậm, muôn đời sáng tỏ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">K</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">háp đất nước, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">xây đền dựng miếu </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Anh linh Người được hậu duệ và bách gia trăm họ hương khói quanh năm, cúng tế bốn mùa</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Sinh vi Tướng, tận hiếu tận trung trung quân ái quốc.<br />
</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15"> </span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Tử vi Thần, hiển linh hiển thánh phù hộ muôn dân.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Cây Bồ Đề, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Đại Tướng Võ Nguyên Giáp</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> trồng tại khuôn viên thể hiện truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam xuyên suốt chiều dài mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia,đã ghi nhận lòng biết ơn của toàn Đảng toàn dân đối với Nữ Tướng Lê Chân một lòng vì tổ quốc giang sơn.<br />
</span></span>Đất Đông Triều sinh Lê Nữ Tướng trừ giặc phương Bắc,<span class="s5"><span class="bumpedFont15"> </span></span></p>
<p><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Nước An Biên dưỡng Đức Thánh Chân tỏa sáng trời Nam<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Kính thưa Anh linh Nữ tướng:<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Việt Nam ta ngót 5000 năm trải qua bao cuộc chiến tranh. Nay </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">toàn vẹn non sông, </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">được độc lập tự do phải diệt trừ thực dân đế quốc.<br />
</span></span>Nòi giống Rồng – Tiên mấy chục ngàn đời, từ thưở hồng hoang ngày trước.</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Thế anh hùng có Đảng dẫn đường đang sánh vai cùng bè bạn năm châu.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Phát huy truyền thống, tiếp bước tiền nhân: Chiến dịch đường 18 làm quân Pháp thất điên bát đảo.<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Noi gương </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">cha</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> – ông, Súng dân quân Đồng Triều </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">vít cổ giặc nhà trời của Mỹ xuống đáy Cầm giang</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Việt Nam </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">và</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Đông Triều</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> ta</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">đa</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ng thời đổi mới. Xã hội hóa mọi nơi</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> đang được thực thi.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Từ thành thị nông thô</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">n đến biên cương hải đảo. Bệnh viện nhà trường khang trang sạch đẹp. Khắp chốn mọi nơi đổi thịt thay da</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Một nước nghèo nay</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> dư thừa lương thực,</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">Cao tốc vươn xa, đường bê tông </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ngõ ngách mọi nhà, Điện sáng long lanh khắp hang cùng ngõ hẻm</span></span> <span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Mặc đẹp ăn ngon</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> xu thế hiện hà</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">nh, Chỗ nghỉ dưỡng, vui chơi tuổi già, con trẻ được l</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ãnh đ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">ạo các cấp, ngành luôn săn sóc </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">quan tâm</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">  </span></span><br />
<span class="s5"><span class="bumpedFont15">Đát nước thanh bình, ý Đảng lòng dân chung một khối.</span></span></p>
<p><span class="s5"><span class="bumpedFont15"> </span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Quê hương giàu đẹp</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">, hội nhập toàn cầu sánh Năm châu.<br />
</span></span>Thưa anh linh Nữ Tướng:</p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Nhớ câu</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> “</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">Cẩ</span></span><span class="s5"><span class="bumpedFont15">n tắc , vô ưu”.</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> Cả dân tộc luôn luôn  cảnh giác, mộng xâm lăng vẫn rình rập quanh ta.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Súng chắc trong tay không một phút lơ là</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, lực lượng Quốc phòng – An ninh ngày càng tiền tiến hiện đại.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Ý Đảng lòng dân một chữ Đồng, vùi bọn xâm lăng xuống bùn đen vạn kiếp</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Trước Linh đài  nhân ngày khánh thành đền thờ Nữ Tướng</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Hậu duệ họ Lê các đời cùng nhân dân trăm họ sửa biện Lễ vật, đặc sản kháp vùng thành kính dâng lên trước án.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Kính t</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">hỉnh:<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Anh linh Nữ Tướng, thân phụ, thân mẫu, gia binh tùy tướng cùng chư vị thần linh</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> lai lâm </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">chấp kỳ lễ vật chứng giám lòng thành chứng minh công đức.<br />
</span></span>Nén tâm nhang giãi tấm lòng thành,<br />
Câu khấn nguyện thay lời bày tỏ,<br />
Lộc của Nữ Tướng như hạt mưa làn gió,<br />
Tưới tẩm sinh linh mát mẻ cháu con<br />
<span class="s3"><span class="bumpedFont15">Nguyện cầu Nữ tướng, thân phụ thân mẫu, tùy tướng Gia binh, Anh hùng liệt sĩ con em quê hương An Biên, con</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> em Đệ Tứ chiến khu được </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">siêu sinh </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">tịnh độ</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">.</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Phù hộ cho:<br />
</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Người người mạnh khỏe, n</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">hà nhà bình an</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, kinh tế giàu sang, học hành tiến tới, kinh doanh thuận lợi, phát lộc phát tài, gái cũng như trai</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">,</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> công thành danh toại, đường xa không ngại, xe chạy an toàn</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">, phường phố xóm thôn, kết đoàn trên dưới. Xây dựng Việt Nam to đẹp đàng hoàng như mong muố</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">n của Bác Hồ trước lúc đi xa,</span></span></p>
<p>Đất nước Việt Nam vững bền muôn thuở,<br />
Nòi giống  Rông – Tiên mãi mãi  trường tồn.<br />
<span class="s3"><span class="bumpedFont15">Giãi tấm lòng thành </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">hậu duệ chúng con </span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15">cúi xin chứng giám</span></span></p>
<p><span class="s3"><span class="bumpedFont15">Cẩn cáo! Cẩn cáo! Cẩn cẩn cáo!<br />
</span></span>Lê Hồng Thắng<br />
Phó Chủ tịch HĐHL Việt Nam, <span class="s3"><span class="bumpedFont15">Chủ tịch</span></span><span class="s3"><span class="bumpedFont15"> HĐHL tỉnh Quảng Ninh (p</span></span>hụng soạn và tuyên đọc)</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/chuc-van-khanh-thanh-den-tho-nu-tuong-le-chan-o-dong-trieu-quang-ninh/">Chúc văn Khánh thành đền thờ nữ tướng Lê Chân ở Đông Triều, Quảng Ninh</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/chuc-van-khanh-thanh-den-tho-nu-tuong-le-chan-o-dong-trieu-quang-ninh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>35 vị khai quốc công thần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn</title>
		<link>https://holevietnam.vn/35-vi-khai-quoc-cong-than-trong-cuoc-khoi-nghia-lam-son-1418-1428/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/35-vi-khai-quoc-cong-than-trong-cuoc-khoi-nghia-lam-son-1418-1428/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[canhnhac]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 26 Apr 2021 09:31:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Danh nhân họ Lê]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<category><![CDATA[Tri ân tiên tổ]]></category>
		<category><![CDATA[Tư liệu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2014</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN- Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 &#8211; 1428), có 35 vị khai quốc công thần được Lê Thái tổ Ngự danh trong “Lam Sơn thực lục” (xếp theo thứ tự trong bản Ngự danh)  1/ Lương Quốc Công Lê Thạch  (? – 1421) Lê Thạch người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang nay...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/35-vi-khai-quoc-cong-than-trong-cuoc-khoi-nghia-lam-son-1418-1428/">35 vị khai quốc công thần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>HLVN- Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 &#8211; 1428), có 35 vị khai quốc công thần được Lê Thái tổ Ngự danh trong “Lam Sơn thực lục” (xếp theo thứ tự trong bản Ngự danh)</strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2015" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/LE-THACH-t7-293402062017032724-300x278.jpg" alt="" width="300" height="278" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/LE-THACH-t7-293402062017032724-300x278.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/LE-THACH-t7-293402062017032724-768x711.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/LE-THACH-t7-293402062017032724.jpg 800w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p><strong> </strong><strong>1/ Lương Quốc Công Lê Thạch  (? – 1421)</strong></p>
<p>Lê Thạch người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang nay là thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là con Lê Học, gọi Lê Lợi là chú ruột. Ông không chỉ có công tổ chức tham gia vào quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà ông còn là vị tướng liên tục lập nên những chiến công hiển hách trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1421). Ông mất tháng 12 năm Tân Sửu 1421 trong trận đánh quân Ai Lao ở sách Thủy.. Hiện nay thành phố Thanh Hóa và thủ đô Hà Nội có đường phố mang tên ông.</p>
<p><strong>2/Thái bảo Quốc công Lê Lý (? – 1443)</strong></p>
<p>Lê Lý vốn gốc họ Nguyễn, người làng Dao Xá, hương Lam Sơn, huyện  Lương Giang, nay là làng Dao Xá, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là một trong 18 người tham gia Hội thề Lũng Nhai. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa theo làm Thứ thủ kỵ binh. Ông mất năm Thái Hòa nguyên niên, Quý Hợi (1443).</p>
<p><strong>3/ Thái phó Hoằng Quận công Lê Thận (? – 1448)</strong></p>
<p>Lê Thận vốn gốc họ Nguyễn, người sách Mục Sơn, huyện Lôi Dương, nay là làng Mục Ngoại, xã Thọ Xương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Khi Lê Lợi khởi binh ông là một trong những người trước tiên hăng hái tham gia. Tên ông đứng thứ 3 trong Hội thề Lũng Nhai (sau Lê Lai). Trong suốt những năm kháng chiến chống giặc Minh, trong hầu hết các trận chiến lớn nhỏ, từ rừng núi phía Tây Thanh Hóa, vào Nghệ An rồi ra Bắc đều có sự đóng góp của Lê Thận.</p>
<p>Ông mất năm Mậu Thìn 1448, triều đình cho lập đền thờ ông tại sách Mục Sơn, quê hương ông.</p>
<p><strong>4/ Bảo chính vương Lê Văn Linh (? – 1448)</strong></p>
<p>Lê Văn Linh vốn gốc họ Trần quê xã Bảo Đà, huyện Lôi Dương, sau chuyển về thôn Hải Lịch nay là xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là một trong những người đầu tiên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, là người dứng thứ 4 trong hội thề Lũng Nhai. Khi Lê Lợi tế cờ khởi nghĩa, Lê Văn Linh được làm Mưu sỹ, chuyên bàn việc quân cơ, bày mưu kế đánh giặc. Ông là khai quốc công thần và là nguyên Lão đại thần của 3 triều vua: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông.</p>
<p>Ông mất ngày 17 tháng 4 năm Mậu Thìn 1448, an tang tại quê nhà xã Hải Lịch (nay là xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân). Hiện nay nơi đây còn nhà thờ Thái phó Lê Văn Linh được xây dựng ngay khi ông qua đời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>5 Thái phó Khắc Quốc công Lê Văn An (1384 – 1437)</strong></p>
<p>Lê Văn An người làng Diên Hào, sách Mục sơn, huyện Cổ Lôi, trấn Thanh Hóa, nay là làng Diên Hào, xã Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông đến tụ nghĩa nghĩa Lam Sơn năm Ất Mùi 1415, trước khi có Hội thề Lũng Nhai. Trong văn thề Lũng Nhai tên ông đứng thứ 5. Khi khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra, Lê Lợi cử ông làm Thứ thú vệ kỵ binh quân Thiết đột. Ông theo Lê Lợi tham gia đánh nhiều trận lớn, lập được nhiều chiến công.</p>
<p>Ông mất ngày 9 tháng 4 năm 1437, đền thờ được xây dựng năm 1597 tại sách Mục Sơn, sau chuyển về làng Diên Hào, tháng 4 năm 1972 bị B52 của Mỹ ném bom, hư hại hoàn toàn. Đầu thế kỷ XXI đền thờ được xây lại trên nền cũ, hiện đền thờ còn lưu giữ nhiều hiện vật quý do con cháu cất giữ.</p>
<p><strong>6/ Trung túc vương Lê Lai (? – 1419)</strong></p>
<p>Lê Lai người thôn Dựng Tú (làng Tép), sách Đức Giang thuộc hương Lam Sơn, huyện Lương Giang nay là làng Tép, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là tấm gương tráng liệt, “xả thân cứu chúa” trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Theo tương truyền, Lê Lợi đã dặn dò con cháu họ tộc nhà Lê sau này phải cúng giỗ Lê Lai trước giỗ mình một ngày, vì vậy trong dân gian có câu: “hai mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.</p>
<p>Ông mất ngày 29 tháng 4 năm 1419. Đền thờ được xây dựng năm 1450 đời vua Lê Nhân Tông tại làng Tép quê hương ông nên còn có tên Đền Tép.</p>
<p><strong>7/ Thái bảo Trang Quận công Bùi Quốc Hưng (? – 1448)</strong></p>
<p>Bùi Quốc Hưng người xã Cống Khê, huyện Chương Đức, trấn Sơn Nam Thượng. Khi Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, ông vào Thanh Hóa làm gia sư cho gia đình Lê Lợi. Biết Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa, tháng 10 năm 1415, ông ghi tên nhập nghĩa quân. Ông và Lê Văn Linh là 2 văn thần về tụ nghĩa trước hội thề Lũng Nhai. Trong Hội thề Lũng Nhai tên ông đứng hàng thứ 9. Bùi Quốc Hưng là một trong 14 người lừa lúc giặc ngủ say, đội cỏ khô bơi theo dòng nước lấy lại hài cốt linh xa nhà vua đem về động Chiêu Nghi bí mật an táng.</p>
<p>Ông mất khi đang đương chức vào năm Thái Hòa thứ 6, Mậu Thìn 1448, được phong Thái bảo Trang Quận công.</p>
<p><strong>8/ Quỳ Quốc công Lê Liễu</strong></p>
<p>Lê Liễu tên thật là Võ Liễu người Lam Xuyên, hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, làm gia thần cho Lê Lợi, vì có võ nghệ hơn người nên Lê Lợi đặt họ tên là Võ Liễu. Lê Liễu là vệ sỹ luôn bên cạnh bảo vệ Lê Lợi, có mặt trong Hội thề Lũng Nhai và được Lê Lợi ghi tên trong “Lam Sơn thập Lục”. Ông là một trong 14 người đi cướp hài cốt linh xa nhà Lê Lợi đem về an táng ở động Chiêu Nghi. Trong 10 năm kháng chiến chống giặc Minh, Lê Liễu không rời Lê Lợi nửa bước.</p>
<p>Không rõ ngày sinh và ngày mất của ông. Đền thờ ông và dòng họ (còn được gọi là đền thờ họ Lê Công thần) hiện ở làng Bản Định, xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>9/ Thái phó Hiển Khánh Vương Trịnh Khả (? – 1451)</strong></p>
<p>Trịnh Khả người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Ninh nay là xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông mang nặng thù nhà nợ nước nên nghe tin Lê Lợi tụ nghĩa diệt giặc Minh, Trịnh Khả gia nhập nghĩa quân. Ông có mặt trong Hội thề Lũng Nhai, cùng những người bí mật đoạt lại hài cốt và Linh xa nhà vua đem về an táng tại động Chiêu Nghi. Khi Lê Lợi khởi binh, ông theo Lê Lợi đi đánh giặc, tham chiến mấy chục trận, trận nào cũng xông lên phía trước, lập được công lớn.</p>
<p>Ông mất tháng 7 năm 1451, triều đình cho dựng đền thờ và khắc bia ghi công lao của Trịnh Khả tại quê nhà.</p>
<p><strong>10/ Đình Thượng Hầu Lê Hiểm (1392 – 1464)</strong></p>
<p>Lê Hiểm quê ở Thiệu Thiên Phủ nay là huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là một đại quan lang dưới đời Trần. Khi nghe tin Lê Lợi chiêu tập nghĩa sỹ, ông mang theo con trai độc nhất của mình là Lê Hiêu về với Lê Lợi. Ông có công trong việc chiêu tập chiến mã, quyên góp lương thực tập trung cho ngày khởi nghĩa. Trong Hội thề Lũng Nhai tên ông đứng hàng thứ 10. Trong những năm kháng chiến ông lập được nhiều công lao, được Lê Thái Tổ phong tặng Đệ nhất công thần, tên ông đứng thứ 10 trong số 35 người có công đầu được chính vua Lê Thái Tổ ngự danh trong “Lam Sơn thập lục”</p>
<p>Ông mất ngày 15 tháng 5 năm Quý Sửu 1464, lăng mộ an táng tại Lam Sơn. Đền thờ Lê Hiểm được xây dựng năm 1554 tại xã Phục Đội, huyện Cư Phong nay là xã Tân Phúc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, quê vợ cũng là nơi con cháu ông được cấp 100 mẫu ruộng để đời đời hưởng lộc.</p>
<p><strong>11/ Thiếu úy Tuy Quốc công Võ Uy (1390 – 1424)</strong></p>
<p>Theo gia phả, Võ Uy gốc người Chiêm Thành ra phò hai vua Hậu Trần chống giặc Minh từ 1405 đến 1414, về lập nghiệp tại xã Đa Căng, huyện Nông Cống khoảng 1415 – 1416. Khi Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa ông theo về làm gia thần cho Lê Lợi, cày ruộng trước động Chiêu Nghi. Võ Uy là một trong 19 vị hào kiệt tham gia Hội thề Lũng Nhai, đứng thứ 12 theo thứ tự trong văn thề Lũng Nhai. Ông là một trong 14 người đi đoạt lại hài cốt linh xa nhà vua đem về an táng tại Chiêu Nghi. Khi tham gia khởi nghĩa, Võ Uy được giao đánh đồn Trấn Năng, bắt được tướng giặc.</p>
<p>Ông hy sinh anh dũng đuổi đánh giặc ở Yên Định vào năm Giáp Thìn 1424, an táng và xây đền thờ ở Lam Sơn, sau con cháu dời về Đa Căng nay là thôn Ngọc Uyên, xã Tân Phúc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>12/ Liệt Hầu Lê Náo</strong></p>
<p>Ông là người Lộ Khả Lam. Ông không có tên trong Hội thề Lũng Nhai cũng không có mặt trong buổi đầu khởi nghĩa (mùng 2 tháng giêng năm Mậu Tuất 1418). Điều ấy chứng tỏ ông về với khởi nghĩa Lam Sơn muộn hơn các vị tướng khác. Theo sách “Lam Sơn thực lục” Lê Náo có tham gia những trận đánh gần như cuối cùng của cuộc kháng chiến, tháng 10 năm 1427.</p>
<p>Hiện nay tài liệu về Lê Náo không còn nhiều. Có điều chắc chắn Lê Náo đã lập được công lớn nên được xếp hạng công thần. Ông đứng thứ 4 trong 14 người được phong tước Liệt hầu, đứng thứ 12 trong 35 vị công thần khai quốc được vua Lê Thái Tổ ngự danh trong sách “Lam Sơn thực lục”.</p>
<p><strong>13/ Thái phó Mục Quận công Lê Lôi (1385 – 1462)</strong></p>
<p>Lê Lôi tên thật là Trương Lôi người thôn Thụ Mệnh, hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa. Khi giặc Minh xâm lược, biết tin Lê Lợi thu nạp người hiền tài nên ông quyết về theo. Ông có mặt trong Hội thề Lũng Nhai. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ông được phong làm Đại tướng tiên phong sau được ban Quốc tính họ Lê. Trong 10 năm kháng chiến, Trương Lôi đã dự tất cả các trận đánh lớn, là người được vua sai đem mấy bại tướng và cờ của Liễu Thăng từ Chi Lăng sang Tuyên Quang báo tin cho Mộc Thạch biết. Sau giải phóng Trương Lôi được xếp hang đệ nhất khai quốc công thần.</p>
<p>Ông mất năm Nhâm Ngọ 1462. Đền thờ ông được xây dựng ngay khi ông mất trên khu đất cổ của họ Lê – Trương tại làng Quan Nội, tổng Liên Trì, nay là thôn Tiền Phong, xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>14/ Á Hầu hành khiển Nguyễn Trãi (1380 – 1442)</strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2016" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/maxresdefault-1-300x169.jpg" alt="" width="300" height="169" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/maxresdefault-1-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/maxresdefault-1-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/maxresdefault-1-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/04/maxresdefault-1.jpg 1280w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p>Tổ tiên Nguyễn Trãi ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, nay là huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông sinh ra tại kinh thành Thăng Long trong dinh thự của ông ngoại Tư đồ Trần Nguyên Hãn. Khi giặc Minh xâm lược nước ta, biết Nguyễn Trãi là người có tài chúng dụ ra làm quan nhưng bị từ chối bèn giam lỏng ông ở Đông Quan. Về sau ông trốn vào Thanh Hóa theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa . Ngày Nguyễn Trãi vào với nghĩa quân Lam Sơn còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng chắc chắn rằng ông được Lê Lợi trọng dụng, luôn giữ bên cạnh mình. Ông là tác giả bài “Bình Ngô đại cáo” được coi là một Thiên cổ hung văn bất hủ, có giá trị như là bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc.</p>
<p>Ông mất năm 1442, sau vụ án “Lệ chi viên”. Đền thờ Nguyễn Trãi mới được xây dựng tháng 12 năm 2000 tại chân núi Ngũ Nhạc, nằm trong quần thể di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hái Dương.</p>
<p><strong>15/ Thái phó Vinh Quốc công Lưu Nhân Chú</strong></p>
<p>Ông quê ở An Thuận nay là xã Văn Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ông cùng cha là Lưu Trung tìm về Lam Sơn theo Lê Lợi từ những ngày chuẩn bị khởi nghĩa. Ông có tên trong Hội thề Lũng Nhai, khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, ông được giao làm Phó chỉ huy vệ kị binh trong đội quân Thiết Đột. Không chỉ là vị tướng tài ba luôn đi tiên phong trong các trận đánh, ông còn được Lê Lợi giao trọng trách cùng Đại Tư đồ Tư Tề vào Đông Quan làm con tin. Năm 1429, Triều đình khắc biển ghi tên Khai quốc công thần, tên ông đứng hàng thứ 5 trong số 35 người.</p>
<p>Về cái chết của Lưu Nhân Chú, trong “Đại Việt thông sử” Lê Quý Đôn viết: “Năm thứ 6, vua Lê Thái Tổ mất, Thái Tông còn nhỏ, quan Đại Tư đồ Lê Sát ghen ghét, ngầm bỏ thuốc độc giết hại ông. Nay đền thờ ông được nhà nước xây dựng tại quê nhà.</p>
<p><strong>16/ Hoàng Nghĩa hầu Trịnh Vô</strong></p>
<p>Trịnh Vô không rõ năm sinh, quê quán. Chỉ biết lúc bấy giờ Lê Lợi là người đứng đầu một ấp làm nghề cày ruộng, thường sai bọn Vũ Uy, Trương Lôi, Trịnh Vô cày cấy ở động Chiêu Nghi. Trịnh Vô là một trong 14 người đi lấy lại hài cốt tổ tiên nhà vua về an táng tại động Chiêu Nghi, là người đứng thứ 15 trong văn thề Lũng Nhai, khi phất cờ khởi nghĩa ông được phong làm Gia tướng của vua, ba lần theo vua lên núi Chí Linh và theo vua đánh trận, không rời nửa bước.</p>
<p>Hiện nay tài liệu về Trịnh Vô không nhiều. Ông có tên trong bản ngự danh, đứng thứ 16 trong 35 người trong sách “Lam Sơn thực lục”</p>
<p><strong>17/ Thiếu úy Thái bảo Trịnh Đồ</strong></p>
<p>Ông là người Cổ Mọc, huyện Nông Cống nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Trước khởi nghĩa, Trịnh Đồ biết Lê Lợi chiêu hiền đãi sỹ nên về kiến diện. Khi khởi nghĩa, ông trở về dắt theo một thớt voi xung vào nghĩa quân. Ông cùng Trịnh Khả, Trương Lôi được Lê Lợi cử sang bắt vua Lào phải cấp lương ăn và vũ khí cùng voi ngựa để chiến đấu với giặc Minh. Ông theo Lê Lợi đánh hàng mấy chục trận lớn nhỏ cho đến ngày toàn thắng.</p>
<p>Năm Thuận Thiên thứ hai 1429, khắc biển công thần, ông được phong tước Quan Nội hầu, tên đứng thứ 4 trong 13 người. Hiện nay tại Tân Ninh, Nông Cống còn nhà thờ ông và dòng họ.</p>
<p><strong>18/ Thiếu úy Đại Tri phủ Lê Luân (? – 1454)</strong></p>
<p>Ông là người xã Đàm Thi, hương Lam Sơn,huyện Lương Giang nay là thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông nội Lê Luân là Lê Khí làm quan đời Trần, bố là Lê Miêu sinh được 2 con trai, trưởng là Lê Lộng, thứ là Lê Luân.</p>
<p>Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa cả nhà Lê Luân theo cờ khởi nghĩa. Họ đều là những võ quan xông pha trận mạc lập được công lớn. Lê Miêu năm Thuận Thiên thứ 2 (1429) được phong Thái lộc hầu, được treo biển Công thần khai quốc. Lê Lộng tham gia nghĩa quân trước ngày khởi nghĩa, trải qua nhiều gian lao nguy hiểm được phong Ngân Thanh Quang lộc, tước quan nội hầu.</p>
<p>Lê Luân, khi phất cờ khởi nghĩa Lê Lợi đã phong làm tướng trong 52 tướng văn, tướng võ, ông xếp thứ 2 sau Lê Khang. Do lập được nhiều công lớn nên năm 1428 Lê Luân được phong Thiếu úy đồng tổng quản Đại tri phủ, tước Á hầu, xếp thứ 35/93 người được treo biển ngạch Công thần khai quốc.</p>
<p>Lê Luân mất năm Diên Ninh thứ nhất 1454 tại thôn Ngô, xã Phù Chẩn, huyện Thụy Nguyên, nay là thôn Bình Ngô, xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>19/ Đặng Lộc hầu Đinh Lan</strong></p>
<p>Ông là người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, đã đến tụ nghĩa ở Lam Sơn từ rất sớm, có mặt trong Hội thề Lũng Nhai. Là một tướng văn, ông giúp Lê Lợi trù hoạch binh lương, xây dựng chính quyền mới ở những nơi đã được nghĩa quân giải phóng.</p>
<p>Năm Thuận Thiên thứ nhất 1428, ông được phong Đặng Lộc hầu, năm Thuận Thiên thứ 2 ông được phong biển Công thần. Ông được Lê Thái Tổ ghi tên (Ngự danh) trong “Lam Sơn thực lục”.</p>
<p><strong>20/ Thái bảo Cảnh Quốc công Lê Sát (? – 1437)</strong></p>
<p>Ông người làng Bỉ Ngũ, hương Lam Sơn, huyện Lương Giang. Ông là một trong những người đầu tiên hăng hái tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Ông là người rất có tài cầm quân nên được Lê Lợi trao quyền chỉ huy một trong những cơ ngũ của nghĩa quân Lam Sơn, liên tiếp lập được nhiều công lớn. Năm 1427 ông được phong hàm Thiếu úy &#8211; Tư Mã. Năm 1429, nhà Lê triều lập biển khắc tên 93 khai quốc công thần, Lê Sát vinh dự được xếp hàng thứ hai.</p>
<p>Năm 1433 Lê Sát được phong Đại Tư Đồ. Năm 1434 ông được trao quyền Tể tướng. Ông là cố mệnh đại thần,một lòng trung với vua, nhưng tính tình nóng nảy, giết oan Nhân Chú nên vua cho là lộng quyền. Năm 1437 vua Lê Thái Tông cho ông được tự vẫn tại nhà. Năm 1484, đời vua Lê Thánh Tông cho rằng ông là người có công, chết không đáng tội nên truy tặng Thái Bảo Cảnh Quốc Công. Đền thờ ông ở xã Định Hải, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>21/ Lễ Bình Hầu Phạm Lôi (? – 1442)</strong></p>
<p>Ông là người Lộ Khả Lam, huyện Lương Giang, là một trong 18 anh hùng hào kiệt cùng Lê Lợi trong Hội thề Lũng Nhai. Ông cùng với các tướng lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn tham gia đánh hàng chục trận lớn nhỏ, lập công lớn.</p>
<p>Năm Thuận Thiên thứ nhất 1428, ông được phong tước Quan Nội Hầu. Năm Thuận thiên thứ hai 1429, vua sai khắc biển cho các công thần khai quốc Lũng Nhai, ông được phong tước Lễ Bình Hầu. Ông mất năm Nhâm Tuất 1442.</p>
<p><strong>22/ Vĩnh Tuy Hầu Lê Văn Độ (Lê Độ)</strong></p>
<p>Ông là người sách Cổ Đằng, nay là huyện Hoằng Hóa. Vì bị Lương Nhữ Hốt, người cùng huyện chèn ép, nên nghe tin Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa, tháng 9 năm 1417 ông lên Lam Sơn tham gia nghĩa quân. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông được làm tướng chỉ huy quân Hỏa thủ Thiết đột. Ông xông pha chiến trận, lập được công lớn, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi Lãnh đạo.</p>
<p>Ông là một trong 35 người được vua Lê Thái tổ ngự danh trong “Lam Sơn Thực lục”, năm 1428 được xếp hang Tam công (công thứ ba), năm 1429 ông được khắc biển Công thần khai quốc, phong tước Vĩnh tuy Hầu, ban họ vua.</p>
<p>Hậu duệ của Lê Văn Độ hiện nay đang ở làng Quần Kênh (xưa gọi là làng Quần Đót), xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Xưa ở đây có nghè thờ ông. Năm 1952 bị giặc Pháp ném bom, hiện nay còn Lăng mộ, đền thờ do con cháu mới xây dựng đầu thế kỷ XXI.</p>
<p><strong>23/ Thái bảo Hiệp Quận công Lê Văn Lễ (? – 1449)</strong></p>
<p>Ông là người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, đến Lam Sơn tụ nghĩa tháng 5 năm 1417, là người giỏi võ nghệ, tính cương trực, thẳng thắn nên trong 10 năm kháng chiến ông luôn theo sát bảo vệ Lê Lợi. Ông đã cùng Chủ tướng Lê Lợi 3 lần kéo quân lên Linh Sơn (Chí Linh) để củng cố lực lượng, rồi từ đây cùng Chủ tướng vào Nghệ An, ra Bắc. Khi vây địch ở Đông Quan ông không có điều kiện tham gia các trận đánh, mà luôn bên cạnh Lê Lợi giúp vua điều binh, khiển tướng, cung cấp lương thảo, nhân lực cho các mặt trận.</p>
<p>Năm 1428 ông được phong Bảo chính công thần nhập nội thiếu úy, năm 1432 ông được phong Tán trị hiệp mưu công thần. Ông mất năm 1449, thọ 82 tuổi. Năm Hồng Đức thứ 15 (1484), đời vua Lê Thánh Tông ông được truy tặng Thái bảo Hiệp Quận công.</p>
<p><strong>24/ Trụ Quốc công, Thượng tướng quân Lê Nỗ (1393 – 1439)</strong></p>
<p>Ông tên thật là Doãn Nỗ sinh ra trong một gia đình Danh gia vọng tộc tại làng Cổ Định, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1415 quân Minh vây ráp vùng Nông Cống, giết hại 3000 người. Riêng hương Cổ Na chỉ có 18 người chạy thoát, trong đó có 2 anh em Doãn Năng và Doãn Nỗ. Ngày 7/2/2018 hai anh em Doãn Năng và Doãn Nỗ tìm đến Lê Lợi và trở thành 50 tướng đầu tiên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.</p>
<p>Ông tham gia chỉ huy chiến đấu hàng chục trận lớn nhỏ, lập công xuất sắc, được Lê Lợi ban Quốc tính (họ vua), sau đó được phong Trụ Quốc công, Thượng Tướng quân đạo Sơn Nam. Khi nhận chức ông đưa gia đình về làng Hạ Yên Quyết, Phương Chiểu, huyện Tiên Lữ, trấn Sơn Nam Thượng</p>
<p>Ông mất năm 1439, lăng mộ và đền thờ được xây tại hương Phương Chiểu, tổng Tiên Châu, huyện Tiên Lữ, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam, nay là thôn Phương Trung, xã Phương Chiểu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.</p>
<p><strong>25/ Thái úy Giới Quận công Lưu Trung (? – 1459)</strong></p>
<p>Ông là người xã Đàm Thi, nay là xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lưu Trung đến Lam Sơn phò tá Bình định vương Lê Lợi năm 1417. Ông là 1 trong 14 người được cử đi đoạt lại hài cốt linh xa nhà Lê Lợi bị quân Minh cướp, đem về an táng tại động Chiêu Nghi. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, Lưu Trung là một trong 51 tướng văn, tướng võ chia nhau chỉ huy nghĩa quân trực tiếp đánh địch, lập nhiều công trạng.</p>
<p>Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, ông giữ chức Đồng tổng quản vệ qui hóa. Lưu Trung thờ 3 triều vua: Thái Tổ, Thái Tông và Nhân Tông, làm quan cao cấp ở bên ngoài, xa chốn triều đình. Ông được vua Lê Thánh Tông đánh giá rất cao về tài năng và đức độ. Năm Hồng Đức thứ 15 Giáp Thìn 1484, ông được  truy tặng Thái úy Giới Quận công. Ông cùng con trai là Lê Nhân Chú đều là khai quốc công thần và được ngự danh trong “Lam Sơn thực lục”.</p>
<p><strong>26/ Thái phó Từ Quốc công Lê Lãng (? – 1442)</strong></p>
<p>Ông tên đầy đủ là Lê Khả Lãng người thôn Dao Xá, hương Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, Phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa. Ông là Phò mã đô úy triều Trần, từng theo nhà Hậu Trần đánh đuổi giặc Minh. Khi nhà Hậu Trần mất ông trở về làng Dao Xá ẩn danh. Năm 1418 ông cùng 2 con trai là Lê Khả Ngang và Lê Khả Liệt tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều công trạng.</p>
<p>Năm 1428, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông được phong Thái bảo, tước Từ Quận công. Ông là một trong 35 vị công thần do Lê Lợi “ngự danh”. Đến năm 1484 ông được vua Lê Thánh Tông truy phong Thái phó Từ Quốc công.</p>
<p>Ông mất ngày 25 tháng 1 năm Nhâm Tuất 1442, được phong Thần và thờ ở nhiều nơi và là thành hoàng thờ ở đình làng Hương Nhượng, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa</p>
<p><strong>27/ Phương Quận công Trần Duy </strong></p>
<p>Là một tướng văn, Trần Duy không trực tiếp tham gia các trận đánh, bởi thế các bộ sử lớn như: “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt thông sử”…đều không chép tên ông. Trong khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, ông chuyên lo binh lương và vũ khí, lập nhiều công lớn nên sách “Lam Sơn thực lục” do chính Lê Lợi viết, xếp Trần Duy vào hàng công thứ ba, Năm 1428 Trần Duy được phong Phương Quận công do có công chăm lo binh lương quốc sự.</p>
<p>Cho đến nay, ngoài thông tin ít ỏi ghi trong “Lam Sơn thực lục”, chúng tôi hầu như chưa biết nhiều về Trần Duy như quê quán, hậu duệ, đền thờ, sắc phong vv..Chúng tôi huy vọng từ bài viết này ai biết gì về Khai quốc công thần Trần Duy cung cấp, để công chúng được biết công trạng một vị khai quốc được ghi trong “Lam Sơn thực lục” cất trong rương vàng tại Lam Kinh.</p>
<p><strong>28/ Thái phó Hoằng Quốc công Lê Ngân (? – 1437)</strong></p>
<p>Ông là người xã Đàm Thị, huyện Lương Giang, nay là xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là danh tướng tài ba có nhiều công lao trong khởi nghĩa Lam Sơn. Mặc dù Lê Ngân không có mặt trong Hội thề Lũng Nhai, cũng không có mặt trong buổi dựng cờ khởi nghĩa mùng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất 1418, nhưng ông xuất hiện đúng lúc, khi nghĩa quân Lam Sơn cần một vị tướng tài và cần một trận thắng lớn để gây thanh thế. Vì thế Lê Ngân là người có công lớn, xứng đáng là khai quốc công thần bậc nhất của nhà Hậu Lê.</p>
<p>Lê Ngân mất tháng 11 năm 1437 tại tư gia do bị tố giác thờ tượng Phật trong nhà để cầu lợi riêng. Năm Thái Hòa thứ 11 Quý Dậu 1453, Lê Ngân được vua Lê Nhân Tông minh oan, truy tặng Thái phó Hoằng Quốc công.</p>
<p><strong>29/ Tư đồ Trượng Quận công Lê Hiêu (? – 1459)</strong></p>
<p>Ông người thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn, huyện Lương Giang. Ông có mặt ngày đầu khi Lê Lợi khởi binh. Lúc ấy binh tướng của ta còn rất ít, Lê Hiêu cùng các ông Lê Khang, Lê Luân, Lê Sao, Lê Nanh, Lê Lễ….chia nhau cầm quân đối địch với giặc Minh. Ông là vị tướng dũng cảm, tham gia hầu hết các trận đánh , cùng Lê Lợi trải qua bao gian lao, nguy hiểm, lập công lớn, được Lê Lợi rất tin dùng.</p>
<p>Năm 1428, khi kháng chiến thắng lợi, Lê Hiêu được ban quốc tính (họ vua), được xếp hạng nhất Khai quốc công thần Lũng Nhai. Năm 1429, khắc biển công thần, Lê Hiêu được phong Á hầu, tên xếp thứ 8 trong 16 người. Năm 1431, Lê Thái Tổ viết “Lam Sơn thực lục”, trong bản ngự danh, Lê Hiêu đứng thứ 29 trên 35 người. Ông  làm quan qua ba triều vua: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông. Ông mất năm 1459 khi đang giữ chức Tư đồ Bình chương sự. Năm 1484 ông được vua Lê Thánh Tông phong tặng Trượng Quận công.</p>
<p>Hiện nay còn nhà thờ, gia phả, sắc phong và hậu duệ của ông ở xã Tân Phúc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>30/ Thái úy Vinh Quận công Lê Sao (1381 – 1452)</strong></p>
<p>Ông quê ở làng Đoán Lương, huyện Lương Giang, nay là xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lê Sao cùng em Thái úy Tán Quốc công Lê Khôi và anh là Thái úy Quỳ Quốc công Lê Khang có mặt ngay từ ngày đầu trong cuộc khởi nghĩa Lám Sơn, được Lê Lợi tin dùng. Khi phất cờ khởi nghĩa  (1418) Lê Lợi đặc biệt quan tâm đến chuẩn bị lương thảo bằng nguồn lương thực của các quan lang miền núi. Vấn đề này Lê Lợi giao cho Lê Sao phụ trách.</p>
<p>Năm 1428, cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Thái Tổ xét công phong thưởng 35 công thần theo vua từ ngày đầu, Lê Sao xếp thứ 30 trong bản ngự danh và được phong  tước Vinh Quận công. Lê Sao mất ngày 11 tháng 5 năm 1452 thọ 71 tuổi. Mộ táng bên mộ tổ tại làng Đoán Lương (Hào Lương).</p>
<p><strong>31/ Thái bảo Lý Quận công Trương Chiến (? – 1436)</strong></p>
<p>Ông là con trai khai quốc công thần Trương Lôi, người thôn Thụ Mệnh, tên ghi thứ 19 trong văn thề Lũng Nhai. Khi Lê Lợi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, ông được nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng, đã góp nhiều công sức, lập nhiều chiến công. Ông cùng cha luôn bên cạnh Lê Lợi trong những ngày chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, thực hiện ý đồ của Lê Lợi trong việc tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ và địa bàn hoạt động của nghĩa quân. Hai cha con Trương Lôi, Trương Chiến còn đặc biệt có tài huấn luyện voi chiến và nổi tiếng với tài cầm quân lấy ít thắng nhiều.</p>
<p>Ông mất năm 1436, được dòng họ và dân địa phương xây lăng mộ và đền thờ tại cố hương là Thôn Quan Nội, vùng đất lộc điền của họ Trương, nay thuộc xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><strong>32/ Thiếu úy Mậu Quận công Lê Nanh</strong></p>
<p>Ông người làng Giao Xá, sách Khả Lam, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa. Lê Nanh có thân hình cao to, tiếng nói vang như chuông, bước đi như hổ báo, ngay từ đầu đến với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi phong cho ông chức Đại tướng. Ông là một trong 14 người được Lê Lợi sai đi lấy lại hài cố và linh xa bị giặc Minh cướp, dem về chôn cất vào chỗ cũ (động Chiêu Nghi).</p>
<p>Lê Nanh là vị tướng tài ba, thông minh, văn võ song toàn. Trong 10 năm kháng chiến ông luôn kề vai sát cánh bên cạnh Lê Lợi cho đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn.</p>
<p><strong>33/ Đường Quận công Lê Cố</strong></p>
<p>Họ và tên đầy đủ của ông là Lương Thế Cố, dân tộc Thái, người động Nhân Trầm, xưa thuộc huyện Thọ Xuân, nay là xóm Nhân, xã Luận Khê, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p>Lúc mới khởi nghĩa, Lê Lợi cùng Trương Lôi và Lê Liễu rút lên Linh Sơn để bảo toàn lực lượng. Trên đường gặp một nông dân đang cày ruộng bèn hỏi đường. Người nông dân xưng là Lương Thế Cố, từ lâu muốn đến Lam Sơn theo Lê Lợi, nay gặp ở đây liền về nhà mang cơm rượu ra thết đãi rồi cùng Trương Lôi và Lê Liếu bảo vệ Lê Lợi lên Linh Sơn.</p>
<p>Lương Thế Cố là người am tường đường đi lối lại rừng núi miền Tây Thanh Hóa nên 3 lần Lê Lợi rút lên núi Chí Linh, hết lương, ông đều vượt vòng vây của địch, đến nhà dân xin cơm gạo mang về cho chủ tướng và binh sỹ.</p>
<p>Lương Thế Cố là người được Lê Lợi sai ở lại vớt thi hài bà phi Phạm Thị Ngọc Trần, rồi cùng 500 quân mang quan tài bà về quê mai táng.</p>
<p>Năm Thuận Thiên thứ nhất 1428, Lương Thế Cố được phong Quốc tính (họ vua). Năm Thuận Thiên thứ hai được phong tước Á hầu. Năm Hồng Đức thứ 15 (1484) ông được tặng Đường Quận công. Ông có tên trong 35 vị công thần được ngự danh trong “Lam Sơn thực lục”</p>
<p><strong>34/ Thái bảo Nghị Quận công Lê Hối </strong></p>
<p>Lê Hối vốn họ Trịnh người ở sách Lại Thượng, huyện Lương Giang, nay là xã Xuân Châu, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông có mặt từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và được gắn ngạch “Công thần Lũng Nhai”.</p>
<p>Trịnh Hối theo Lê Lợi đánh giặc 10 năm, cùng nằm gai nếm mật, khi đất nước khải hoàn, năm thuận Thiên thứ nhất 1428, Trịnh Hối được ban Quốc tính (họ vua) và được phong Bảo chính công thần nhập nội. Năm 1484, niên hiệu Hồng Đức thứ 15,ông  được vua Lê Thánh Tông tặng Thái bảo Nghị Quận công.</p>
<p><strong>35/ Thái úy Trung Quốc công Lê Lâm (? – 1431)</strong></p>
<p>Ông là con thứ ba của Trung Túc vương Lê Lai, người thôn Dựng Tú, sách Đức Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Trung túc vương Lê Lai sinh được ba người con trai: Lê Lôi, Lê Lộ và Lê Lâm.</p>
<p>Lê Lôi năm 1425 vào vây đánh thành Nghệ An bị hy sinh, được tặng Kiến Quận công. Lê Lộ theo Lê Lợi đánhTrà Lân, Bồ Lạp 1424 thắng được Phương Chính, được phong Chiêu Quận công.</p>
<p>Lê Lâm là người văn võ song toàn, có nhiều đóng góp trong khởi nghĩa Lam Sơn. Năm Thuận thiên thứ nhất 1428, Lê Lâm được xếp hàng công thứ 3 trong các vị khai quốc công thần. Năm 1430 giặc Ai Lao nổi lên quấy rối, Lê Lâm xin làm tướng tiên phong, đuổi giặc đến động Hồng Di bị trúng tên độc mà chết. Ông mất ngày 16 tháng 5 năm 1430, mộ táng và đền thờ tại thôn Bỉ Ngủ, nay là thôn Kiên Minh, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><em>Lê Xuân Giang</em><em> b</em><em>iên soạn </em></p>
<p><em>(Theo  sách</em><em>“35 vị khai quốc công thần Lam </em><em>Sơn”</em><em> NXB</em><em> Thanh Hóa &#8211; 2017)</em></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/35-vi-khai-quoc-cong-than-trong-cuoc-khoi-nghia-lam-son-1418-1428/">35 vị khai quốc công thần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/35-vi-khai-quoc-cong-than-trong-cuoc-khoi-nghia-lam-son-1418-1428/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Vua hiền có Lê Thánh Tông&#8230;”</title>
		<link>https://holevietnam.vn/vua-hien-co-le-thanh-tong/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/vua-hien-co-le-thanh-tong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 07 Mar 2021 09:27:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[Tri ân tiên tổ]]></category>
		<category><![CDATA[Tư liệu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=1750</guid>

					<description><![CDATA[<p>LTS &#8211; Vua Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), mất ngày 30 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1497). Năm 1942, trong bài diễn ca Lịch sử nước ta, Hồ Chủ tịch đã viết “Vua hiền có Lê Thánh Tông&#8230;”. Thánh Tông là miếu hiệu của Lê Tư Thành, con...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/vua-hien-co-le-thanh-tong/">“Vua hiền có Lê Thánh Tông&#8230;”</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>LTS &#8211; Vua Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), mất ngày 30 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1497). Năm 1942, trong bài diễn ca Lịch sử nước ta, Hồ Chủ tịch đã viết “Vua hiền có Lê Thánh Tông&#8230;”. Thánh Tông là miếu hiệu của Lê Tư Thành, con thứ tư, cũng là con út của vua Lê Thái Tông (1423 &#8211; 1442). Ông còn có tên là Hạo, hiệu là Thiên Nam Động chủ, sinh tại nhà ông ngoại ở mạn tây nam Quốc Tử Giám, nay là khu đất chùa Huy Văn, Hà Nội. Sau khi vua Lê Nhân Tông bị hãm hại, rồi Lê Nghi Dân bị lật đổ, Lê Thánh Tông được tôn lên ngôi vua, lúc 18 tuổi. Ông trị vì 38 năm với hai niên hiệu là Quang Thuận (1460 &#8211; 1469) và n</strong><strong>hân dịp giới Khoa học &#8211; Nhân văn nước ta đang có chương trình đề xuất Liên hợp quốc ghi nhận Lê Thánh Tông là Danh nhân văn hóa thế giới, Báo Nhân Dân cuối tuần trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà nghiên cứu văn hóa Anh Chi.</strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-1773" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/046.jpg" alt="" width="640" height="424" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/046.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/046-300x199.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p>Là người yêu dân yêu nước thiết tha, khi ở ngôi, Lê Thánh Tông tỏ ra là một nhà tổ chức vô cùng tài giỏi, có tinh thần cải cách táo bạo và một ý chí tự cường dân tộc mạnh mẽ. Hành chính nước Đại Việt ta với năm đạo từ thời Lê Thái Tổ, Thánh Tông chia thành 15 đạo, rồi đổi gọi là thừa tuyên. Dưới thừa tuyên là phủ, huyện, châu, tổng, xã. Hệ thống quan lại cũng được đặt lại từ trung ương xuống địa phương, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Nhờ vậy, việc quản lý lãnh thổ chặt chẽ, biên cương được bảo vệ vững chắc. Trình độ quản lý đạt đến đỉnh cao, thể hiện rõ trong việc biên vẽ bản đồ quy mô toàn quốc. Một số thư tịch cổ cho biết, từ thời Lý đã tiến hành đo đạc và biên vẽ bản đồ, rất tiếc là không còn lưu lại được đến ngày nay. Còn bộ bản đồ thời Hồng Đức, dẫu chỉ còn lại bản sao của các đời sau, nhưng cũng đủ để chúng ta thấy một trình độ đáng khâm phục. Hai thế kỷ sau, A-lếc-xăng Đơ-rốt (Alexandre de Rhode) đến nước ta và đã vẽ bản đồ Đại Việt ta. Dù có được kỹ thuật đồ bản phương Tây thế kỷ XVII, A.Đơ-rốt vẫn phải chịu ảnh hưởng rất nhiều và trong chừng mực nào đó còn không bằng bản đồ thời Hồng Đức. Bản đồ của A.Đơ-rốt vẽ không đặt theo trục Bắc &#8211; Nam như bản đồ người phương Tây, mà cũng đặt chiều đứng theo trục Tây &#8211; Đông, giống bản đồ Hồng Đức. Việc đó cho thấy, bộ bản đồ thời Hồng Đức có trình độ đồ bản đạt đến đỉnh cao của nhân loại đương thời!<br />
Cũng dưới triều Lê Thánh Tông, các chính sách mang tính khai phóng đã được tiến hành, như mở mang đồn điền, khai khẩn đất đai, khuyến nông, nuôi dưỡng sức nước bằng việc làm tăng trưởng sức dân. Theo sách Việt sử thông giám cương mục thì, năm Hồng Đức thứ mười hai, 1481, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu lập 43 Sở đồn điền trong cả nước “là cốt để dồn sức vào việc làm ruộng cho sự tích trữ (lương thực) trong nước được dồi dào”. Trong 43 sở đó, vùng ven Thăng Long cũng có những sở, như Quán La Sở, Minh Cảo Sở (sau đổi gọi là Xuân Tảo Sở), Yên Sở&#8230; Sở đồn điền lập ra trên làng nào thì lấy tên làng đó mà gọi tên Sở, và cũng có thể những Sở đồn điền sau trở thành vùng dân cư trù phú và nó trở thành tên làng, thôn. Những việc đó đã tạo nên những thay đổi căn bản của quốc gia Đại Việt.<br />
Về quốc phòng, Lê Thánh Tông cho tổ chức quân đội lại chặt chẽ và cơ động, thường xuyên được học tập binh pháp. Và lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt ta xuất hiện luật quân sự, khi vua Thánh Tông cho ban hành 43 điều luật về quân đội, đưa quân đội vào một quy chế chặt chẽ và có sức chiến đấu cao.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-1765" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/063.jpg" alt="" width="640" height="424" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/063.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/063-300x199.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" />          <em> Chiều 11/3/2021 ( 28-1 năm Tân Sửu),đại biểu Ban Thường trực HĐHL Viêt Nam và đại biểu Ban Thường trực HĐHL thành phố Hà Nội đã tổ chức Lễ giỗ lần thứ 524 (1497-2021) Đức vua Lê Thánh Tông tại Điện thờ Huy Văn, phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội.</em></p>
<p>Thật đặc biệt, Lê Thánh Tông canh tân mọi mặt xã hội một cách căn bản và đặt trên nền tảng cai trị bằng luật pháp. Một đỉnh cao tiêu biểu của pháp trị thời Lê Thánh Tông là cho ban hành bộ Luật Hồng Đức. Ông đã nói với các đại thần: “Pháp luật là phép công của Nhà nước, ta và các ngươi phải cùng tuân theo”. Câu nói đó thể hiện nét vĩ đại của tư tưởng Lê Thánh Tông. Bộ Luật Hồng Đức gồm sáu quyển, 13 chương với 722 điều. Nhà bác học Phan Huy Chú đã đánh giá luật pháp thời Lê: “Thật là cái mẫu mực để trị nước&#8230;”. Đầu thế kỷ XIX, khi cho soạn bộ Hoàng Việt luật lệ, vua Gia Long cũng đã tham khảo và đánh giá rất cao bộ Luật Hồng Đức. Đến cuối thế kỷ XX, Đại học Ohio, nước Mỹ, đã cho dịch và xuất bản bằng Anh ngữ toàn bộ văn bản cùng những khảo cứu kỹ càng bộ Luật Hồng Đức, dày 3 tập. Giáo sư Ô-li-vơ Ốt-man (Oliver Oldman), Chủ nhiệm khoa Luật Á Đông của Đại học Harvard đã đánh giá rất cao Luật Hồng Đức, coi đó là hệ thống luật “với nhiều sự tương đương về chức năng so với những quan niệm luật pháp phương Tây cận hiện đại&#8230;”.<br />
Thời kỳ Lê Thánh Tông trị vì, xã hội phát triển mọi mặt, đất nước đạt tới đỉnh cao cường thịnh, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc với những giá trị văn hóa vô cùng lớn: Hồng Đức thiên hạ bản đồ, Hồng Đức hình luật, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức quốc âm thi tập&#8230; Ông là người cho khởi dựng Bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám, là người đầu tiên cho đặt Trường thi võ ở phía tây Kinh thành (địa điểm Giảng Võ ngày nay). Một việc có ý nghĩa lịch sử mà ông đã làm năm 1464, là rửa oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm thơ văn Nguyễn Trãi để lưu lại cho hậu thế. Chính Lê Thánh Tông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (Trong lòng Ức Trai tỏa sáng văn chương &#8211; Tạ Ngọc Liễn dịch). Có thể nói, bằng tài năng văn hóa kiệt xuất của mình, Lê Thánh Tông đã có công lao tạo lập cho thời đại ông một nền văn hóa với diện mạo riêng, khẳng định bước phát triển của lịch sử văn hóa dân tộc. Nền giáo dục khoa cử nước ta thịnh đạt đặc biệt và vai trò trí thức được đề cao chưa có thời nào được như thời Lê Thánh Tông. Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám là các cơ quan giáo dục và văn hóa lớn của Nhà nước, Thánh Tông còn cho xây Kho bí thư để chứa sách, và lập Hội Tao đàn do ông làm Tao đàn Nguyên súy, vừa sáng tác văn chương vừa nghiên cứu phê bình. Những trước tác của Hội Tao đàn được chép lại trong bộ sách đồ sộ Thiên Nam dư hạ tập, và trong các sách Quỳnh uyển cửu ca, Minh lương cẩm tú, Hồng Đức quốc âm thi tập&#8230; Trong đó không chỉ có những sáng tác thơ văn, mà có cả những tác phẩm về lý luận phê bình văn học &#8211; nghệ thuật, về lịch sử, kinh tế, quan chế, địa lý, khoa học&#8230; Thánh Tông là người dẫn đầu phong trào sáng tác và trước thuật, để lại cho đời một lượng tác phẩm rất lớn chép trong Thiên Nam dư hạ tập, và các tác phẩm riêng như Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Anh hoa hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỷ hành, Văn minh cổ súy, Lam Sơn lương thủy tú&#8230; Ông tài giỏi cả thơ và văn, Nôm và Hán. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê Thánh Tông là một trong những áng văn Việt cổ nhất còn truyền lại đến ngày nay.<br />
Lê Thánh Tông là nhà văn hóa kiệt xuất của nước Việt ta. Và có lẽ, trên hết cả, bao trùm tất cả, là tấm lòng ông, là ý thức trách nhiệm của ông trước dân tộc và đất nước. Ước vọng và hoài bão của thiên tài Lê Thánh Tông là Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại. Đó là câu thơ trong bài thơ khắc trên đá núi Bài Thơ, Quảng Ninh. Thơ viết hơn năm trăm năm trước chắc mãi còn rung động lòng người hậu thế, bởi thơ ấy mang khẩu khí của một bậc đế vương hiền tài và chan chứa xúc cảm nhân văn của một tâm hồn lớn!<br />
Với cương vị người đứng đầu vương quyền, Lê Thánh Tông viết nhiều tác phẩm văn học chức năng. Ông cũng là một nhà văn hóa lớn, nhà thơ mang tầm vóc thời đại. Một trong những tác phẩm văn xuôi xuất sắc của ông là Thánh Tông di thảo gồm 19 truyện vừa có tính truyền kỳ vừa mang tính ngụ ngôn, lại có màu sắc kinh dị rất lạ thường, và thảy đều được viết với bút pháp đại gia. Các truyện tiêu biểu như Tinh chuột, Duyên lạ xứ hoa, Hai Phật cãi nhau&#8230; có sức cuốn hút mạnh mẽ cả về nghệ thuật thể hiện, cả về tư tưởng triết học, lại chất chứa những nỗi đau thương trần đời. Thánh Tông di thảo là dấu mốc quan trọng ghi nhận bước trưởng thành của truyện ký nước Việt ta, ra đời trước cả tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI). Về thơ, Lê Thánh Tông là thi sĩ mang tầm vóc thời đại ông, một thời đại tự cường và thịnh đạt. Thơ ông là tiếng nói của một nhân cách lớn, một nhà tư tưởng tiên phong, một trái tim chứa đựng bát ngát núi sông và tràn đầy tự hào dân tộc: “Nắng ấm nghìn trượng tỏa trên ngọn cờ&#8230;/ Phóng hết tầm mắt núi sông muôn dặm” (Bài Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần về phía đông).<br />
Là người đứng đầu quốc gia, Lê Thánh Tông rất hiểu và trọng những người dưới quyền. Ông viết về những văn thần của mình (bài Văn nhân): “Những lời hùng hồn át cả sông Ngân/ Những câu kỳ diệu quỷ thần phải khóc/ Lòng sạch trong như băng như ngọc&#8230;”. Về các tướng sĩ gian khổ nơi chiến trường, thơ ông chan chứa niềm thương cảm, sẻ chia (bài Tướng sĩ nhớ nhà):<br />
Tay nắm tay ai trong gió bấc lạnh lùng<br />
Đêm cao vời vợi ánh trăng cô quạnh<br />
Mai rụng suốt đêm càng tăng mối hận<br />
Một ngày buồn đằng đẵng tựa ba thu&#8230;<br />
Về bản thân mình, Lê Thánh Tông bày tỏ trong một bài thơ Nôm:<br />
Lòng vì thiên hạ lo âu<br />
Thay việc trời dám trễ đâu<br />
Trống rời canh còn đọc sách<br />
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu&#8230;<br />
Hình ảnh một người đứng đầu nhà nước với bao quốc sự bề bộn mà tay luôn cầm quyển sách, và có thể, phải đọc vào những buổi canh khuya, thật đẹp! Nhà bác học Phan Huy Chú (1782 &#8211; 1840) đã ghi nhận về Lê Thánh Tông: “Tay không rời sách, kinh sử, chư tử, dịch số, toán chương đều tinh thông, văn thơ càng giỏi hơn các bề tôi, (là vị vua) văn vũ tài lược hơn cả các đời”.<br />
Lê Thánh Tông là nhà văn hóa kiệt xuất của nước Việt ta. Và có lẽ, trên hết cả, bao trùm tất cả, là tấm lòng ông, là ý thức trách nhiệm của ông trước dân tộc và đất nước. Ước vọng và hoài bão của thiên tài Lê Thánh Tông là Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại. Đó là câu thơ trong bài thơ khắc trên đá núi Bài Thơ, Quảng Ninh. Thơ viết hơn năm trăm năm trước chắc mãi còn rung động lòng người hậu thế, bởi thơ ấy mang khẩu khí của một bậc đế vương hiền tài và chan chứa xúc cảm nhân văn của một tâm hồn lớn!<br />
AN CHI<br />
(Theo báo Nhân dân)</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/vua-hien-co-le-thanh-tong/">“Vua hiền có Lê Thánh Tông&#8230;”</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/vua-hien-co-le-thanh-tong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
