<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ Gia phả dòng họ - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</title>
	<atom:link href="https://holevietnam.vn/chuyen-muc/tim-ve-coi-nguon/gia-pha-dong-ho/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://holevietnam.vn/chuyen-muc/tim-ve-coi-nguon/gia-pha-dong-ho/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Tue, 15 Mar 2022 15:22:56 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.10</generator>

<image>
	<url>https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/cropped-logo2-32x32.png</url>
	<title>Lưu trữ Gia phả dòng họ - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</title>
	<link>https://holevietnam.vn/chuyen-muc/tim-ve-coi-nguon/gia-pha-dong-ho/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Đi tìm mộ tổ họ Lê lại gặp họ Nguyễn</title>
		<link>https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 09 Mar 2022 10:49:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2608</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Nhiều dòng họ bị chia cách từ hàng trăm năm trước, đang được các thế hệ con cháu nỗ lực tìm kiếm, nối kết tỏ tường họ tộc. Gia phả họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế ghi rõ cụ Lê Đạo là Nguyễn Hữu Đạo &#8211; Ảnh: THÁI LỘC “Khi tìm về...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/">Đi tìm mộ tổ họ Lê lại gặp họ Nguyễn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>HLVN </em>&#8211; Nhiều dòng họ bị chia cách từ hàng trăm năm trước, đang được các thế hệ con cháu nỗ lực tìm kiếm, nối kết tỏ tường họ tộc.</p>
<p style="text-align: justify;"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2604" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-4-4read-only-1551409186737286507817.jpg" alt="" width="640" height="428" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-4-4read-only-1551409186737286507817.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-4-4read-only-1551409186737286507817-300x201.jpg 300w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Gia phả họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế ghi rõ cụ Lê Đạo là Nguyễn Hữu Đạo &#8211; Ảnh: THÁI LỘC</em></p>
<p style="text-align: justify;">“Khi tìm về cội nguồn tổ tiên, dường như có bề trên chỉ dẫn nên tôi giải đáp được nhiều vấn đề liên quan đến ông tổ mình và mối quan hệ ruột thịt với họ Nguyễn Hữu ở làng Phù Lưu Tế”- TS Lê Văn Nho</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những ngày này, tại cánh đồng Thấm của làng Phù Lưu Tế (Mỹ Đức, Hà Nội), công trình tôn tạo khu lăng mộ của quốc vương Tư Tề, con trai trưởng của đức Thái tổ Lê Lợi, đang bước vào giai đoạn khẩn trương hoàn thành trong sự háo hức của con cháu họ Lê trên khắp cả nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện khởi đầu từ TS Lê Văn Nho, phó hiệu trưởng Trường ĐH Kỹ thuật y &#8211; dược Đà Nẵng. Ông đã dành thời gian, tâm huyết để tìm hiểu về ông tổ của mình, qua đó minh định về cuộc đời, sự nghiệp của vị quốc vương có nhiều ẩn khuất trong lịch sử.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Băn khoăn tìm kiếm</strong></p>
<p style="text-align: justify;">TS Lê Văn Nho thuộc đời thứ 20 họ Lê làng Lệ Sơn (Hòa Tiến, Hòa Vang, Đà Nẵng). Mấy năm trước, trong một buổi lễ tôn vinh con cháu có thành tích xuất sắc, TS Nho đã nêu ra những điều băn khoăn về ngài thủy tổ Lê Đại Độ của họ Lê ở Lệ Sơn, rằng: Nguyên quán ngài ở đâu? Tên họ gốc là gì? Đến Quảng Nam vào năm nào? Khi về Bắc thì mất ở đâu và mộ phần ở đâu? Bao nhiêu người vợ, và mộ phần của họ?&#8230; Những thắc mắc ấy xuất phát từ ghi chép trong gia phả họ Lê: &#8220;Ngài Lê Đại Độ là thế tổ thứ nhất nguyên gốc Thần Phù trấn Nghệ An, vào Quảng Nam dinh vào khoảng trước, sau năm 1430-1500 khai lập tộc Lê làng Lệ Sơn. Đến già ngài về Bắc từ trần và an táng tại quê nhà, không rõ mộ phần&#8221;. Những thắc mắc của TS Nho không được các bác trong họ trả lời vì chưa rõ cội nguồn.</p>
<p style="text-align: justify;">20 năm trước, họ Lê làng Lệ Sơn đã từng cử đại diện lên đường ra Bắc tìm manh mối về ngài tổ, từ Nghệ An, Hà Tĩnh đến Thanh Hóa, Ninh Bình vô vọng; ngay cả Ban liên lạc họ Lê Việt Nam tại Hà Nội cũng không lần ra được.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ quyết tâm, bền bỉ, TS Nho đã tìm ra ngài Lê Đại Độ chính là Lê Đạo (Độ), con trai của Lê Trừ và gọi Lê Lợi bằng chú ruột. Ngài từng tham gia cuộc bình Chiêm đất phương Nam và được sai phái đến đất Quảng Nam ngày nay lập ấp dựng nghiệp, trở thành thủy tổ họ Lê làng Lệ Sơn. Nơi ngài về Bắc mất là làng Phù Lưu Tế bên kia sông Đáy, nay là xã Phù Lưu Tế (Mỹ Đức, Hà Nội).</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2606" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ltt-2-4read-only-15514091867391857025304.jpg" alt="" width="640" height="428" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ltt-2-4read-only-15514091867391857025304.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ltt-2-4read-only-15514091867391857025304-300x201.jpg 300w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Khu lăng ghi là mộ tổ dòng họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế, Hà Nội, vừa được xác định là của cụ Lê Đạo &#8211; Ảnh: THÁI LỘC</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bất ngờ nối tiếp</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày giữa năm 2016, TS Nho nối kết được với ông Nguyễn Hữu Thủy, trưởng họ Nguyễn gốc ở Phù Lưu Tế. Ông Thủy dẫn TS Nho ra nhà thờ họ Nguyễn Hữu. Thật bất ngờ, phả đồ tộc Nguyễn Hữu treo ở đây được chia làm 2 phần: phần trên ghi họ Lê là Lê Khoáng sinh ra Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi. Lê Trừ sinh ra Lê Đạo, và còn chú thêm dòng &#8220;Cụ Lê Đạo chính là cụ Nguyễn Hữu Đạo&#8221;. Phần dưới nối tiếp của phả đồ tất cả đều là họ Nguyễn Hữu, tính từ Nguyễn Hữu Đạo&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bao đời, dòng họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế truyền lại với con cháu là gốc Lê cải sang họ Nguyễn nhưng không rõ nguyên do. Đến năm 2010, khi trưởng họ Nguyễn Hữu Thủy đến ăn giỗ bên nhà thờ họ Lê ở thị trấn Tế Tiêu, người ở đây bất ngờ tìm thấy văn bản xưa ghi cụ thể việc cải họ ấy. Đem về, hội đồng họ Nguyễn Hữu mới bàn và đưa vào gia phả nội dung cải họ bắt đầu từ cụ Nguyễn Hữu Đạo chính là Lê Đạo; hội đồng dòng Nguyễn Hữu chính thức lập tông đồ đưa lên nhà thờ cho con cháu biết. Song, mọi chuyện vẫn dừng lại ngang đó chứ không có manh mối gì thêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nay đối chiếu những mảnh ghép dòng họ với những điểm trùng khớp kỳ lạ, hai bên thống nhất: họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế và họ Lê ở Lệ Sơn có cùng ông tổ là Lê Đạo (Nguyễn Hữu Đạo). Mộ thủy tổ Lê Đạo nằm ở xứ Chùa Am ven dòng sông Đáy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bổ sung khuyết sử</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, TS Nho tiếp tục tìm được những văn bản và chứng cứ chứng minh việc cải họ của cụ tổ Lê Đạo là theo Lê Tư Tề, con trai cả đức Thái tổ Lê Lợi, người được vua Lê Thái Tổ ban tước vương. Sau khi bị giáng xuống làm thường dân, Lê Tư Tề mới cải sang họ Nguyễn Hữu để mai danh ẩn tích. Là người theo phò Tư Tề vương, Lê Đạo phải đổi sang họ Nguyễn Hữu tương tự chủ tướng của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự việc trong lịch sử được TS Nho diễn giải như sau: Lê Đạo và Lê Tư Tề theo Lê Lợi kháng Minh từ những năm đầu dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Sau thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (1428), nhà Hậu Lê bắt đầu có sự tranh giành ngôi vương giữa nhánh trưởng Tư Tề và nhánh thứ Nguyên Long, hình thành phe phái ủng hộ các bên. Sau khi quyết định nhường ngôi cho con thứ Nguyên Long (vua Lê Thái Tông), năm 1433, trước khi băng hà, vua Lê Lợi đã giáng Lê Tư Tề từ tước quốc vương xuống quận vương. Năm 1438, Tư Tề tiếp tục bị em trai là vua Lê Thái Tông giáng xuống làm thường dân, nên phải cùng những người hầu cận (gồm cả Lê Đạo) dạt về vùng ven sông Đáy ngày nay, cải sang họ Nguyễn để bảo toàn tính mạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát hiện mộ Lê Tư Tề</strong></p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2605" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-1-4read-only-15514091867361654329035.jpg" alt="" width="640" height="428" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-1-4read-only-15514091867361654329035.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-1-4read-only-15514091867361654329035-300x201.jpg 300w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Lăng mộ Lê Tư Tề ở Phù Lưu Tế (Hà Nội) suốt thời gian dài ghi là họ Nguyễn &#8211; Ảnh: THÁI LỘC</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sau một thời gian thu thập, tra cứu, TS Nho xác định rõ ngôi mộ nhỏ đề &#8220;Tổ ông họ Nguyễn Hữu&#8221; ở cánh đồng Thấm, làng Phù Lưu Tế, Hà Nội là của Tư Tề vương, và ngày mất là 9-9 âm lịch (năm 1492), thọ 71 tuổi. Trong nhiều năm liền, khu lăng mộ đơn sơ không ai nghĩ tới đó chính là của ngài con trưởng đức vua Lê Thái Tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi mở đợt vận động, cả con cháu ngài Tư Tề lẫn nhiều nhà hảo tâm khác đã tích cực tham gia đóng góp hàng trăm triệu đồng để xây dựng một khu lăng có quy mô to lớn hơn (sẽ hoàn thành vào tháng 3-2019) để tương xứng với người từng kế vị Lê Thái Tổ nhưng bất thành.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: right;"><strong><em>                                                                                                       Theo Thái Lộc-tuoitre.vn</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">00:42 / 09:43</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/">Đi tìm mộ tổ họ Lê lại gặp họ Nguyễn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương: Hoàng tộc nhà Hậu – triêù Lê Sơ (1428-1527)*    </title>
		<link>https://holevietnam.vn/2553-2/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/2553-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 28 Feb 2022 08:21:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2553</guid>

					<description><![CDATA[<p>    HLVN &#8211; Nhà Hậu Lê &#8211; Lê sơ  là giai đoạn đầu của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê. Nhà Lê sơ được thành lập sau khi Lê Lợi đứng lên dựng cờ tụ nghĩa, phát động khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh bại quân Minh, mang lại độc lập cho Đại Việt  năm 1428. Thời đại...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/2553-2/">Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương: Hoàng tộc nhà Hậu – triêù Lê Sơ (1428-1527)*    </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>    </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>HLVN &#8211;</em> Nhà Hậu Lê &#8211; Lê sơ  là giai đoạn đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_%C4%91%E1%BA%A1i">triều đại</a> quân chủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA">nhà Hậu Lê</a>. Nhà Lê sơ được thành lập sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_L%E1%BB%A3i">Lê Lợi</a> đứng lên dựng cờ tụ nghĩa, phát động <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_Lam_S%C6%A1n">khởi</a> nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh bại quân Minh, mang lại độc lập cho Đại Việt  năm 1428. Thời đại Lê sơ có 10 vị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_%C4%91%E1%BA%BF">hoàng đế</a> thuộc 6 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_h%E1%BB%87">thế hệ</a>, đây là thời kỳ các hoàng đế nhà Lê nắm trọn quyền hành, cũng là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. Đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%E1%BB%95">Lê Thái Tổ</a> (Lê Lợi), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng">Lê Thái Tông</a>, Lê Thánh Tông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A3_h%E1%BB%99i">xã hội</a> được đi vào ổn định, phát triển thịnh vượng. Năm Mậu Thân (1428), sau 10 năm kháng Minh thành công, Nhà Hậu Lê (Lê sơ) khai quốc, lên ngôi, đến năm Đinh Hợi (1527) là 99 năm. Từ năm Đinh Hợi (1527) đến năm Nhâm Thìn (1532), Nhà Lê sơ bị nhà Mạc soán ngôi, trải qua 6 năm không có niên hiệu hoàng đế.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2550" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-2048x1536.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p><em> Anh hùng Lao động Lê Văn Tam, Chủ tich HĐHL VN chủ trì Lễ giỗ lần thứ 585 năm Đức Vua Lê Thái Tổ tại Lam Kinh </em></p>
<p style="text-align: justify;">I- Từ Triệu tổ Cao hoàng đế Lê Hối đến Lê Thái Tổ &#8211; Lê Lợi: Tổ tiên của Đức Vua Lê Lợi (ông cố, ông nội và cha của Lê Lợi).</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Triệu tổ Cao hoàng đế<a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a>, Huyền tổ tên húy Lê Hối: Triệu tổ Cao hoàng đế mất, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Phổ Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Duyên: quê huyện Lôi Dương, xã Quần Đội, sinh ra Tuyên Tổ Phúc hoàng đế, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Tuyên Tổ Phúc hoàng đế, húy Lê Đinh: trưởng tử của Triệu tổ, giỗ ngày 21.10, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trinh Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Quách: quê huyện Lôi Dương, xã Xuân Lan, sinh ra Hiển tổ Trạch Hoàng đế.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Hiển tổ Trạch Hoàng đế, tên húy Lê Khoáng<a href="#_ftn2" name="_ftnref2"><strong>[2]</strong></a>: con thứ của Tuyên Tổ, giỗ ngày 17.10, táng tại lăng Phật Hoàng, động Chiêu Nghi.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Hiển Từ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Thương<a href="#_ftn3" name="_ftnref3"><strong>[3]</strong></a>: quê huyện Lôi Dương, xã Thủy Chú – Vân Đô, sinh Thái Tổ Cao Hoàng Đế, giỗ ngày 17.10, táng tại lăng Bạch Thạch, thôn Chiêu Thị.</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Từ Thái tổ Cao hoàng đế Lê Lợi đến Cung Tông Hoàng đế, húy Thung (còn đọc là Xuân):</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">1/-Thái tổ Cao hoàng đế, họ Lê, húy Lợi: con út của Hiển tổ, Đệ tam cung, sinh ngày 6.8 năm Ất Sửu (1385).</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày 9.1 năm Mậu Tuất, lúc 34 tuổi, ông khởi nghĩa ở huyện Lam Sơn, hiệu Lam Sơn động chủ. Năm 44 tuổi-Mậu Thân, ông lên ngôi vua (1428), niên hiệu Thuận Thiên, sau đổi Thái Bảo, tại vị 6 năm, thọ 49 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Mất ngày 22.8 năm Quý Sửu (1433), táng tại Tẩm Điện (chính tẩm). Cũng trong năm ấy 2.9 hỏa hóa tại điện Cảnh Phúc. Cũng năm ấy, ngày 23.12 chuyển về Vĩnh Lăng ở Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Chánh tẩm Thái phi Trịnh Thị  Ngọc Lữ: quê huyện Lôi Dương, xã Bái Đô, giỗ ngày 26.12, sinh con trưởng là Lê Tư Tề làm Quốc vương, sau giáng xuống Quận Ai vương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Cung Từ Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần: quê huyện Lôi Dương, xã Quần Đội, sinh con là Văn Hoàng đế, giỗ ngày 24.3, táng huyện Lôi Dương, xã Thạnh Mỹ, lăng An Tiết, tại điện Hiển Nhân.</p>
<p style="text-align: justify;">2/-Thái Tông Văn Hoàng đế, húy Lê Long<a href="#_ftn4" name="_ftnref4"><strong>[4]</strong></a>: con trai thứ của vua Lê Lợi, sinh ngày 22.11 năm Quý Mão (1423), hiệu Vạn Thọ Khánh Tiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 11 tuổi, vào ngày 8.9 năm Quý Sửu (1433), lên ngôi vua, niên hiệu Thiệu Bình, tại vị 10 năm, thọ 20 tuổi, mất ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/12_th%C3%A1ng_8">12 tháng 8</a> năm Nhâm Tuất (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1442">1442</a>), táng tại Hựu Lăng, Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Tuyên Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Anh: quê huyện Đông Sơn, xã Bố Vệ, sinh ra Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, giỗ ngày 3.10.</p>
<p style="text-align: justify;">3/-Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, húy Bang Cơ: con thứ của Thái Tông, sinh ngày 9.8 năm Tân Dậu, hiệu Khánh Thiên Thánh Tiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2 tuổi, vào ngày 3.8 năm Nhâm Tuất lên ngôi vua lấy niên hiệu Thái Hòa, sau đổi Diên Ninh, tại vị 18 năm, thọ 19 tuổi, mất ngày 3.10 năm Kỷ Mão (1459), táng tại Mục Lăng, Lam Sơn</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao: quê huyện Yên Định, xã Đồng Bàng, sinh Thánh Tông Thuần Hoàng đế, giỗ ngày 26.3, táng tại quận Yên Định, xã Đồng Bàn, lăng lập ở điện Thừa Hoa, thờ cúng ở điện Thung Thôn</p>
<p style="text-align: justify;">4/-Thánh Tông Thuần Hoàng đế, húy Thành<a href="#_ftn5" name="_ftnref5"><strong>[5]</strong></a>, con út của Thái Tông, sinh ngày 20.7 năm Nhâm Tuất 1442, hiệu là Sùng Thiên Thánh Tiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 19 tuổi, năm Kỷ Mão lên ngôi vua, niên hiệu Quang Thuận, Thiên Nam động chủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mười một năm sau, vào năm Ất Sửu cải nguyên Hồng Đức 29 năm,  tại vị 39 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 2.6 năm Đinh Tỵ lập thần vị là “Thái tử hiệu Cảnh Thống thọ ngũ thập thất tuế”, mất ngày 30.1 năm Mậu Ngọ (1497), táng tại Chiêu Lăng, Lam Sơn</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2551" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-2048x1536.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Huy Gia Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyền: quê huyện Tống Sơn, xã Gia Miêu, sinh ra Hiến Tông Ưng Hoàng đế, giỗ ngày 21.3</p>
<p style="text-align: justify;">5/-Hiến Tông Dung Hoàng đế, húy Tăng<a href="#_ftn6" name="_ftnref6"><strong>[6]</strong></a>: con trưởng của Thánh Tông, sinh năm Giáp Ngọ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 24 tuổi lên ngôi ngày 2.2 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thống, xưng Thượng Dương Sơn động chủ, tại vị 8 năm, thọ 31 tuổi, mất ngày 24.5  năm Giáp Tý, táng tại Hựu Lăng.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trang Thuận Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Hoàn: quê huyện Thiên Thi, xã Bình Lăng, sinh Túc Tông Khâm Hoàng đế, giỗ ngày 15.12</p>
<p style="text-align: justify;">6/-Túc Tông Khâm Hoàng đế, húy Thuần : con trưởng của Hiến Tông, sinh năm Tân Dậu. Năm 17 tuổi, ngày 2.6 năm Giáp Tý lên ngôi vua, niên hiệu Thái Trinh, tại vị 7 tháng, thọ 4 tuổi, mất ngày 18.12 năm Giáp Tý, táng tại Chiêu Lăng, Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nhu Ý Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Thi, quê huyện Đông Ngạn, xã Phù Chẩn, sinh Đức Tông Kiến hoàng đế, giỗ ngày 22.3.</p>
<p style="text-align: justify;">7/-Đức Tông Kiến hoàng đế húy Phô: sinh năm Mâu Ngọ, lúc 16 tuổi, năm, ngày 28.12 năm Giáp Tý lên ngôi vua, niên hiêu Đoan Khánh, tại vị 6 năm, thọ 21 tuổi, mất ngày 8.12 năm Kỷ Tỵ (1409), táng tại quê mẹ huyện Đông Ngạn, xã Phù Chẩn, An Định lăng.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Huy Từ Hoàng Thái hậu Trinh Thị Ngọc Tuyên: quê Lôi Dương, xã Vĩnh Chú, sinh ra Minh Tông Triết hoàng đế.</p>
<p style="text-align: justify;">8/-Minh Tông Triết Hoàng đế, Nhương đế, húy Sùng: con trưởng của Đức Tông, sinh năm Ất Mão (1495).</p>
<p style="text-align: justify;">          Năm 15 tuổi, ngày 3.5 năm Kỷ Tỵ, ông lên ngôi vua, niên hiệu Hồng Thuận, tại vị 8 năm, thọ 22 tuổi, mất 13.11 năm Bính Tý, táng tại huyện Khâm Thiên, xã Mỹ Xá.</p>
<p style="text-align: justify;">-Đoan Mục Hoàng thái hậu Lê Thị Ngọc Loan Bảo: quê huyện Cát Trì, xã Vĩnh</p>
<p style="text-align: justify;">Trung, sinh ra Chiếu Tông Thần Hoàng đế, giỗ ngày 13.11, táng tại Đoan Khắc điệ</p>
<p style="text-align: justify;">9/-Chiêu Tông Thần Hoàng đế: con trưởng của Minh Tông, sinh năm Ất Sửu, năm 12 tuổi, ngày 20.4 năm Bính Tý lên ngôi vua, niên hiệu Quang Thiệu,</p>
<p style="text-align: justify;">Tại vị 7 năm, bị Mạc Đăng Dung giáng làm Đà Dương vương, thọ 18 tuổi, mất ngày 1.12 năm Nhâm Ngọ, táng tại Lam Sơn Nguyễn Xá, gần xã An Lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">-Gia Khánh Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Quỳnh: quê huyện Đoan Nguyên, sinh Trang Tông Dụ hoàng đế</p>
<p style="text-align: justify;">*10/-Cung Tông Hoàng đế, húy Thung (còn đọc là Xuân): là cháu của Đức Tông, là con thứ của Minh Tông, là em của Chiêu Tông, sinh năm Mậu Dần.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ông 5 tuổi, vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522) lên ngôi vua, niên hiệu Thống Nguyên, tại vị 6 năm, bị Mạc Đăng Dung soán vị, thọ 10 tuổi, mất năm Đinh Hợi, táng tại huyện Khâm Thiên, xã Mỹ Hợp, An Tiết lăng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trích Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương, Bảo Đại năm thứ 19 (1944), tháng Hai, phụng sao. Bản V.1305 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm</p>
<p style="text-align: justify;">Người dịch: Phạm Thúc Hồng</p>
<p style="text-align: justify;">Tổ chức biên soạn – Hiệu đính: TS.BS. Lê Văn Nho</p>
<p style="text-align: justify;">* Hoàng tộc Nhà Hậu Lê – Triều Lê sơ là đề mục do chúng tôi xây dựng.</p>
<p style="text-align: right;">                        <strong>                                         </strong><strong>T<em>S.BS. Lê Văn Nho </em></strong></p>
<p style="text-align: right;">                                                                                                 Ủy viên Ban TV HĐ HLVN</p>
<p style="text-align: right;">                                    Ban khoa học gia phả &#8211; Kết nối dòng họ</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tài liệu tham khảo:</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đại Việt sử ký toàn thư</p>
<p style="text-align: justify;">Lê triều ngọc phả (Hoàng Lê ngọc phả)</p>
<p style="text-align: justify;">Lê tộc sinh hạ</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàng Lê ngọc phả tập ký</p>
<p style="text-align: justify;">Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương</p>
<p style="text-align: justify;">Gia phả tộc Trịnh làng Thủy Chú – Vân Đô (Xuân Thắng- Thọ Xuân- Thanh Hóa)</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Các danh hiệu này là do Lê Lợi sau khi lên ngôi vua đã suy tôn Cao tổ, Tằng tổ, Nội tổ và cha mẹ ruột của mình.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Thương sinh 3 trai và 3 gái. 3 trai: Lê Học <em>(Hiển Tổ trưởng tử, phong Chiêu Hiếu Vương)</em>, Lê Trừ <em>(Hiển Tổ thứ tử, tôn Hoằng Dụ Vương)</em>, Lê Lợi <em>(Thái Tổ, Hiển Tổ quý tử).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Con Lê Học<em>: Lê Thạch (Lê Học trưởng tử, phong Trung Dũng Vương).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Con của Lê Trừ: Lê Khôi<em> (Trưởng tử, Chiêu Huy Đại vương), </em>Lê Khang (<em>Thứ 2, Hiển Công Vương), </em>Lê Khiêm <em>(Thứ 3, Xương quốc công),. Theo Lê tộc sinh hạ (1429): </em>Lê Trừ<em> còn có 2 con trai là </em>Lê Sao<em> (Qùy Quốc công) và quý tử là </em>Lê Đạo<em> (Thiếu úy Quận công). </em>3 gái: Công chúa Lê Thị Ngọc Vị (Tá), Lê Thị Ngọc Triển và Lê Thị Ngọc Biền.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref3" name="_ftn3">[3]</a> Theo gia phả Trịnh tộc làng Thủy Chú: Cụ bà Trịnh Thị Ngọc Thương táng tại quê nhà của bà ở đồi Thao Quang, làng Thủy Chú (nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref4" name="_ftn4">[4]</a> Theo Lê triều ngọc phả: vua Lê Thái Tông có 4 con trai, 4 con gái. 4 con trai: Lê Nghi Dân (con trưởng), Lê Khắc Xương (con thứ 2), Lê Bang Cơ (Vua Lê Nhân Tôn, con thứ 3), Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông, con út).  4 con gái:  trưởng nữ là Lê Thị Ngọc Đường, thứ là Lê Thị Ngọc Hoàn (cùng mẹ với Nhân Tông), thứ 3 là Lê Thị Ngọc Điểm (cùng mẹ với Nghi Dân), út là Lê Thị Ngọc Tiết (cùng mẹ với Thánh Tông, là Ngô Thị Bính).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref5" name="_ftn5">[5]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Vua Lê Thánh Tông có 14 con trai, 20 con gái.</p>
<p style="text-align: justify;">14 con trai: Lê Tăng <em>(Lê Hiến Tông),</em> Lương vương <em>(Lê Thuyên)</em>, Tống vương <em>(Lê Tung</em>), Đường vương <em>(Lê Cảo),</em> Kiến Vương <em>(Lê Tân),</em> Phúc vương <em>(Lê Tranh),</em> Diễn vương <em>(Lê Thông)</em>, Quảng vương <em>(Lê Táo),</em> Lâm vương <em>(Lê Tương),</em> Ứng vương <em>(Lê Chiêu),</em> Nghĩa vương <em>(Lê Cảnh)</em>,Trấn Vương <em>(Lê Tranh),</em>Triệu vương <em>(Lê Thoan),</em> Kinh vương <em>(Lê Kiện).</em></p>
<p style="text-align: justify;">20 con gái: Công chúa vua Lê Thánh Tông :</p>
<p style="text-align: justify;">Công chúa Gia Thục (trưởng nữ), Ý Đức, Thụy Hoa, Chiêu Huy, Thiên Vương, Quỳnh Phương, Bảo Thanh, Dương Xuân, Mãn Đường, Thao Chi, Nhụy Vân, Cẩm Vinh, Giáng Hương, Cảnh Bình, Đoan Hòa, Kính Thuận, Diễm Văn, Trang công chúa, và hai công chúa mất sớm.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref6" name="_ftn6"></a></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/2553-2/">Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương: Hoàng tộc nhà Hậu – triêù Lê Sơ (1428-1527)*    </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/2553-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguồn gốc Họ Lê qua các nguồn phả, ngọc phả và tư liệu</title>
		<link>https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho%cc%a3-le-qua-cac-nguon-pha%cc%89-ngo%cc%a3c-pha%cc%89-va-tu-lie%cc%a3u/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho%cc%a3-le-qua-cac-nguon-pha%cc%89-ngo%cc%a3c-pha%cc%89-va-tu-lie%cc%a3u/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[canhnhac]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 23 Dec 2021 15:17:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2387</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN- Lịch sử 4.000 năm của cộng đồng người Việt sống trên đất nước Việt Nam đã được sử sách lưu dấu từ khi hình thành nhà nước Văn Lang của các vua Hùng cho tới ngày nay. Theo dòng chảy lịch sử, cùng với sự hình thành các tộc người Việt cũng đã hình...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho%cc%a3-le-qua-cac-nguon-pha%cc%89-ngo%cc%a3c-pha%cc%89-va-tu-lie%cc%a3u/">Nguồn gốc Họ Lê qua các nguồn phả, ngọc phả và tư liệu</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><em>HLVN-</em> Lịch sử 4.000 năm của cộng đồng người Việt sống trên đất nước Việt Nam đã được sử sách lưu dấu từ khi hình thành nhà nước Văn Lang của các vua Hùng cho tới ngày nay. Theo dòng chảy lịch sử, cùng với sự hình thành các tộc người Việt cũng đã hình thành các họ tộc của người Việt Nam từ xa xưa như: họ Đinh, Lê, Lý, Trần, Trịnh, Nguyễn, Hồ, Võ, Trương, Ngô, Phan… tạo nên cộng đồng hơn 54 dân tộc của người Việt, góp phần nên sự trường tồn của Đại Việt xưa và Việt Nam ngày nay. Họ Lê là một trong những giòng họ phổ biến ở nước ta, quy mô lớn, chiếm 15% dân số nước ta hiện nay.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone  wp-image-2202" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/09/facebook_1628588879682_6830796852407232042-199x300.jpg" alt="" width="244" height="368" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/09/facebook_1628588879682_6830796852407232042-199x300.jpg 199w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/09/facebook_1628588879682_6830796852407232042.jpg 638w" sizes="auto, (max-width: 244px) 100vw, 244px" /></p>
<p>Họ Lê Việt Nam theo chiều dài lịch sử đã được hình thành từ rất sớm, mang nét đặc thù thuần Việt như trong một số nghiên cứu của một số tác giả. Họ Lê Việt Nam đã định cư khu vực đồng bằng sông Mã, vùng ven biển Ninh Bình từ rất lâu đời. Trong suốt 1000 năm bị chế độ phong kiến phương Bắc thống trị, chưa tìm thấy tên các vị quan Trung Quốc mang họ Lê sang Việt Nam cai trị, làm quan (Theo An Nam chí lược của Lê Tắc).<br />
1.Nguồn gốc Họ Lê thời tiền sử qua Lê gia phả ký của Họ Lê – Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội (gia phả của Họ Lê – Bối Khê hiện còn bản gốc Hán Nôm và được Bảo tàng Hà Tây, tỉnh Hà Tây (cũ) dịch): Tôi đã có dịp cùng với anh Trinh Dung về thăm chùa Bối Khê 3 năm trước, gặp bác Lê Văn Tập trưởng tộc Lê Phúc-2 Bối Khê nên mới biết một phần câu chuyện lịch sử họ Lê<br />
qua cuốn gia phả của giòng họ này..Chùa Bối Khê (thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây) cách thủ đô Hà Nội chừng 25km về phía Tây Nam. Nơi đây hiện tồn Lăng và hai nhà thờ họ Lê nằm tĩnh tại dưới những tán cây cổ thụ rêu phong. Đây là giòng họ nổi tiếng, thủy tổ Quận công Lê Phúc An, được mệnh danh là dòng “Thi thư thế trạch – võ văn thế thất”. Giòng họ này còn giữ được rất nhiều “di bảo” của tổ tiên truyền lại. Một trong những “báu vật” ấy là cuốn Lê gia phả ký do Hoài Viễn tướng quân điện tiền Đô chỉ huy sứ tư Đô chỉ huy sứ Viên triệu hầu Lê Đình Trân khởi thảo phần “Thanh Oai Bối Khê Lê gia phả ký cựu biên tự” năm Nhâm Tuất, tức năm Cảnh Hưng 3 (1742); đến năm Nhâm Tý, tức năm Chiêu Thống 3 (1789), tức Kỷ Hợi Thịnh khoa nhị giáp Tiến sỹ xuất thân triều thụy đại phu Hàn lâm viện thị độc Sơn Nam Hiệp trấn Ứng Khê hầu Lê Huy Trâm hiệu đính và biên chép tiếp mục “Thanh Oai Lê gia phả tiền biên tự”; năm Đinh Dậu, tức năm Thành Thái 9, Hàn lâm Lê Tân viết tiếp phần “Thanh Oai Bối Khê Lê tộc hội mộ độc biên sách dẫn” thì cuốn Lê gia phả ký mới hoàn thiện, chỉn chu và truyền đến ngày nay.. Đây là một cuốn gia phả khá đồ sộ, mang tính hàn lâm bác học, được chia thành các phần rất rõ ràng. Cuốn gia phả này được phó bảng Bùi Kỷ và nhà văn kiêm lương y Nguyễn Tử Siêu đánh giá rất cao, gồm 181 trang chữ Hán, chữ viết chân phương, văn phong bay bổng. Mỗi phần trong gia phả có thể coi là một sự kiện của giòng họ viết về các cụ hiển danh, từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình phong<br />
kiến Lê – Trịnh xưa.<br />
Trong bài tựa gia tộc phả của cụ Lê Đình Trân, tước Viên Triệu hầu, viết ngày 16 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1742) đời vua Lê Hiển Tôn niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba: Họ Lê ta bắt đầu từ thời vua Bàn Cổ. Ở nước Việt nam có họ Lê từ đời vua Đế Minh (cháu 3 đời vua Thần Nông) đi kinh lý phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh phong cho con là Kính Dương Vương làm vua là họ Hồng-Bàng.Kể từ khi có trời đất, có con người là có họ Lê. Bên nước Trung quốc sau đời Thiếu Hiệu có họ Cửu Lê, đời Đường Nghiêu có họ Chủng Lê (sau đời Lê Hy Hoà) đời Ân có Lê Quốc, đời Chu có Lê Hầu, đời Xuân Thu có LêThự, đời Hậu Lê có Lê Thục, Lê Khai (Niên hiệu Thiên Hoà) đời Tống có Lê Chí, Lê Thuần. Dòng dõi sinh ra nhiều tất nhiên có nhiều biện phái không biết các cụ làm quan bên Trung Quốc có biết rõ được thế hệ không. Tổ họ Lê có từ đó tức là có trước đời Thiếu Hiệu. Từ ấy về sau, con cháu sinh ra ngày càng nhiều. Tản cư chỗ nào cũng có, nhiều nơi đã nỗi tiếng là Thế gia cư tộc. Từ vua Lê Đại Hành nối ngôi nhà Đinh, qua nhà Lý, nhà Trần đến nay đời nào cũng có người hiển đạt . Đời lý có Lê Phụng Hiểu, Lê Bá Ngọc. Đời Trần có Lê Bá Quát, Lê Văn Hưu, Lê Duy, Lê Cư Nhân, Lê Cảnh Tuân, Lê Phụ Trần. Đức Triệu tổ tên là Lê Hối ở núi Lam Sơn được bốn đời truyền đến Lê Lợi tức là vua Lê Thái Tổ lên làm vua (1428-1433) cùng các bậc danh thần như các ông Lê Thạch, Lê Khôi, Lê Văn Linh… Đời Trung hưng có ông: Lê Bá Ly, Lê<br />
ích Mộc, Lê Nại… xem thế đủ biết tiên tổ Họ Lê có từ xưa là thực vậy.<br />
Duy họ Lê ta (họ Lê – Bối Khê) từ Lê Trung Hưng niên hiệu Nguyên Hoà, đời vua Trang Tông (1533-1548) là cụ Lê Đạt Nghị, mới từ xã Khê tang sang ở xã Bối khê đến nay  là sáu đời đã 200 năm. Ông bác ta là Lê Tiến Quý làm quan đến chức Thái bảo Thượng trụ quốc thống Trường quận công.</p>
<p>Bàn Cổ là thần thoại về khai thiên lập địa Trung Quốc có một lịch sử rất lâu dài. Theo truyền thuyết, thì từ thời Hoàng Đế tới nay, đã ngót 5000 năm. Trong gần 5000 năm lịch sử Trung Quốc có rất nhiều câu chuyện có ý nghĩa, trong đó, nhiều câu chuyện đã được ghi chép trong sử sách. Còn về thời viễn cổ từ 5000 năm về trước thì chưa có văn tự ghi chép, nhưng vẫn lưu truyền lại một số thần thoại và truyền thuyết.</p>
<p>2.Nguồn gốc Họ Lê – Việt Nam qua tư liệu tại Bảo tàng Chí Linh được Hội đồng Họ Lê Quảng Nam Đà Nẵng ghi chép, thỉnh về Quảng Nam Đà Nẵng năm 1978 (bản quốc ngữ, không tìm thấy bản Hán Nôm): Tiền nhân thường nói con giòng cháu giống nhà Lê bất diệt. Từ Kinh Triệu Quận hữu niệm từ đời Tiên Hoàng nguyên thủy của tiền nhân ta để lại. Hồng hiện sơ khai nói cả loài người khởi đầu từ thế kỷ khai nguyên giòng giống ta đã có. Riêng phần họ ta thuộc về Châu Á do giòng giống Lạc Hồng phát sinh. Âu Cơ và Lạc Long Quân xuất hiện, con rồng cháu tiên ra đời.Tục thường gọi trăm trứng nở ra trăm con dùng bách tánh phân chia trăm nhà, trăm họ cả nam lẫn nữ (khi chết chia làm trăm quận, phân chia như thế để chết sống phân biệt dễ biết).<br />
Vào khoảng đại nguyên thứ 1 các bậc tiền nhân vô định.Cuối đời Hùng Vương thứ 18, Nam Đế khi đó loạn thần, Thục, Ngô, Ngụy, Triệu nổi lên biến cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, kỳ thị chủng tộc, hiệp lực các tộc mạnh đánh các tộc yếu, ai hơn thì chiếm đất đai xưng Vương, xưng Bá, ai yếu thua phải bỏ xứ chôn nhau cắt rốn đi nơi khác, làm ăn sinh sống. Cho nên ông bà tiền thân ta hiệp cùng các tộc yếu khác phải bỏ nơi chôn nhau, cắt rốn ra đi mang mối hận muôn đời.Đầu tiên, ông bà ta định cư cạnh bờ nam sông Dương Tử (tức tỉnh Quảng Đông bây giờ), lập nhóm tụ họp đoàn kết làm ăn. Mãi những năm tháng chuỗi ngày trôi qua, nguôi dần thù hận. Nhưng cây muốn lặng mà gió lại không ngừng,từng cơn nổi giận cứ vang lên khôn nguôi. Thế rồi lại bị giặc đuổi theo ỷ sức mạnh của mình bày trò tàn ác.Một lần nữa ông bà tiền thân ta lại chạy qua mảnh đất bên kia sông Nhị Hà thuộc tỉnh Quảng Tây bây giờ được 2 năm trong thời gian tạm yên, đời sống cần cù vất vả, đầu óc vẫn luôn luôn vương vấn hận thù.</p>
<p>Không ngờ nạn chiến tranh lấn chiếm tiếp diễn thời bấy giờ là sự bất quá tam của những người bỏ xứ ra đi một phương trời lại được 23 tộc như sau: Đinh, Lê,Trần, Phạm, Mã, Lương, Hồ, Mạc, Nguyễn, Đặng, Võ, Ông, Thái, Châu, Phùng, Cù, Văn, Đàm, Hà, Lý, Tôn, Hứa, Trịnh, tổng kết được 3,700 dân từ lớn đến nhỏ (nam, nữ kể chung). Kẻ trước, người sau cứ phương Nam mà Tiến, ngày đi, đêm nghỉ, cuối cùng tràn qua xử đất Nam mang, biên giới Lạng,Hà Nam xứ này đời xưa gọi là ranh giới đều tay áo những dân tộc chậm tiến. Đến đây tiền thân là cùng сác Tộc bằng dựng tướng Lạc Hùng (cháu Hùng Vương) sắp đặt binh bị để chống lại kẻ thù không đội trời chung là(Trung Quốc bây giờ).<br />
3. An Dương Vương là Tổ Họ Lê theo sách Lễ hội và Danh nhân Lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Hùng Tiến (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997): Kể từ lúc Hồng Bàng dựng nước, truyền 108 vị vua kể cả Phù Đổng, Tản Viên và 18 vị vua Hùng, đến đời Hùng Vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương tên húy là Duệ Lang (Huệ Lang) hạ sinh 22 Hoàng nam, 24 Hoàng nữ, thời kỳđầu rất thông minh chính trực, nhưng từ khi lấy một người họ Lê là cô ruột của Thục Phán, Hùng Huệ Vương lại đam mê tửu sắc, bị Thục Vương và Cao Lỗ lừa phục rượu, để cô của Thục Phán sai giết hết tất cả con trai, con gái, dâu rể.Cơ đồ nhà Hùng đang văn minh rực rỡ bỗng chốc rơi vào tay Thục Phán, năm 258 trước Công Nguyên Thục Phán lên ngôi xưng là An Dương Vương, bỏ quốc hiệu Văn Lang đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Đông Kinh, xây thành Cổ Loa. Thục Phán mất năm 179 trước Công nguyên, làm vua được 30 năm.Thục Phán An Dương Vương là người giòng Họ Lê , con cháu giòng Lê đại tộc bắt nguồn từ đây, trải qua 2.230 năm hình thành và phát triển đất nước, từ năm 258 BC đến nay dòng họ Lê đã cống hiến không biết bao nhiêu xương máu cho Tổ quốc, nổi bật là hai Triều đại Tiền Lê và Hậu Lê. Đó là niềm tự hào cho tất cả những ai được mang giòng máu họ Lê, Để nhớ mãi: Cội nguồn của chúng ta Thục Phán An Dương Vương là ông Tổ của giòng Lê đại tộc (trích). Qua khảo cứu và nhiều lần về làng Vân Nội, xã Phú Lương,huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, tôi được biết Bách Việt tộc phả và Cổ lôi ngọc phả truyền thư (hiện còn bản gốc Hán Nôm) là nguồn phả của Họ Nguyễn Vân nguyên trưởng làng Vân Nội, xã Phú Lương, huyện Thanh Oai,thành phố Hà Nội được Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính (Nguyễn Bính là cha đẻ của Trạng Nguyên Nguyễn Quốc Trinh 阮國楨, 1624-1674), La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp và sau này là các Hương Quận công của dòng họ này phụng soạn, chỉnh tu qua nhiều đời cho đến ngày nay. Trong Bách Việt tộc phả và Cổ lôi ngọc phả truyền thư có ghi An Dương Vương là người họ Lê, tên Lê Phán. Chính vì vậy, tác giả Hà Hùng Tiến đã viết trong sách Lễ hội và Danh nhân Lịch sử Việt Nam An Dương Vương là ông Tổ họ Lê. Trong Sự tích văn hóa lịch sử Việt Nam – Thời đại trước Công nguyên, của tác giả Vũ Tuấn Doanh (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin) cũng đề cập An Dương Vương là người họ Lê,tên Lê Thục Phán. Các bản phả gốc này hiện nay vẫn còn được lưu giữ tại nhà thờ họ Nguyễn Vân – Vân Nội do ông<br />
Nguyễn Văn Liên, Trưởng tộc phụ trách và xem như bảo vật của dòng họ mình.<br />
4. Người Họ Lê có tên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40 – 43): Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ (tương đương một phần Quảng Tây, Trung Quốc và Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay), mang lại độc lập trong 3 năm cho người Việt tại đây. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng quy tụ nhiều giòng họ tham gia như họ Lã, họ Đặng, họ Nguyễn, họ Phùng, họ Đào…được ghi trong các thần tích, ngọc phả. Trong đó Họ Lê có các tướng lĩnh như Lê Hoàn, Lê Hiệp, Lê Chân. Tương truyền, Lê Chân quê ở làng An Biên (tên cổ là làng Vẻn), Đông Triều, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc thôn An Biên, xã Thuỷ An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Theo thần tích đền Nghè, cha Lê Chân là Lê Đạo và mẹ bà là Trần Thị Châu. Ông Lê Đạo làm nghề thầy thuốc, sống rất nhân từ, quảng đại và sẵn lòng bao dung cứu giúp kẻ nghèo khó, sa cơ lỡ bước. Những ân nghĩa của ông ban ra làm dân chúng xa gần mến phục. Bà vợ ông là người cũng nổi tiếng là người thuỳ mị, đảm đang và nhân đức.</p>
<p>Theo truyền thuyết dân gian, trong các lễ hội, ngày 8 tháng 2 âm lịch là ngày sinh và 25 tháng 12 âm lịch là ngày mất của Lê Chân. Các vua đời sau cũng có chiếu phong bà là Thượng đẳng Phúc thần công chúa. Để nhớ công ơn khai khẩn của Bà, Hải Phòng đặt tên một quận mang tên Bà và dựng tượng Bà tại gần trung tâm thành phố; đồng thời, tên của bà được đặt tên cho giải thưởng “Nữ<br />
tướng Lê Chân” để trao cho những phụ nữ có thành tích xuất sắc của đất Cảng.</p>
<p>5. Họ Lê là họ thuần Việt: Họ Lê – Trung Quốc gọi là Cửu Lê, vốn gốc từ họ Cửu Di nên người Trung Quốc nguyên gốc họ Lê không có như họ Lê Việt Nam.<br />
Căn cứ An Nam chí lược của Lê Tắc (biên soạn nửa đầu thế kỷ 14): Trong danh sách các viên quan Thứ Sử, TháiThú ở các Quận Giao-Châu, Cửu-Chân và Nhật-Nam, phụ-biên các quan Thứ-Sử, Thái-Thú Trung Quốc từ đời Tam Quốc đến đời Nhà Trần được phái sang cai trị ở nước ta thì không tìm thấy, ông quan nào mang họ Lê (Trung Quốc). Theo Nhà Biên khảo Vũ Hiệp: Giòng họ Lê có dân số đông thứ nhì trong tổng dân số Việt Nam. Họ Lê chỉ đặc biệt có ở người Việt nước ta mà thôi. Trong lịch sử Trung Quốc rất hiếm có người họ Lê, hơn một ngàn năm Bắc Thuộc không có một viên quan cai trị nào mang họ Lê. Bởi vậy nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Họ Lê là một trong những họ đặc trưng của dân tộc Lạc Việt đã định cư ở đất Thanh Hoá -Ninh Bình từ rất lâu đời đến nay.</p>
<p>Ngày nay họ Lê có thể chiếm đến 15% dân số nước ta, là một dòng họ đã có đến hai lần lập ra triều đại Vương quyền: Tiền Lê và Hậu Lê, tổng cộng 399 năm. Trong danh sách khoa bảng triều Nguyễn trong 115 năm có đến 650 vị Hương Cống, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Phó Bảng là con cháu họ Lê trong 5.230 vị đăng khoa. Nghiên cứu về giòng họ Lê vô cùng thú vị, vì có nhiều danh nhân lịch sử, văn hóa nước ta mang giòng họ này. Đặc biệt những vị Thủy Tổ của nhiều chi phái họ Lê ở nước ta đều xuất xứ trên đất Đại Việt, không hề có ai gốc tích từ Trung Quốc sang mang giòng họ Lê (Trích tham luận của Nhà Biên khảo Vũ Hiệp, bản tin No: 01 ngày 26 Jun 1999 Trung tâm UNESCO Phát triển Nhân Văn TP. Hồ Chí Minh).</p>
<p>TS. Lê Văn Nho</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho%cc%a3-le-qua-cac-nguon-pha%cc%89-ngo%cc%a3c-pha%cc%89-va-tu-lie%cc%a3u/">Nguồn gốc Họ Lê qua các nguồn phả, ngọc phả và tư liệu</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho%cc%a3-le-qua-cac-nguon-pha%cc%89-ngo%cc%a3c-pha%cc%89-va-tu-lie%cc%a3u/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trao quyết định công nhận dòng họ Lê Hữu tại Phù Lưu Tế, Mỹ Đức, Hà Nội</title>
		<link>https://holevietnam.vn/trao-quyet-dinh-cong-nhan-dong-ho-nguyen-huu-nguyen-goc-la-ho-le-huu/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/trao-quyet-dinh-cong-nhan-dong-ho-nguyen-huu-nguyen-goc-la-ho-le-huu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 08 Jul 2021 09:52:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[Hội đồng họ Lê các tỉnh thành]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức – sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2146</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN- Sáng  ngày 4/7 /2021 ( tức 25-05-Tân Sửu), ngày chính kỵ của cao tổ Nguyễn Hữu Hiền (Lê Hữu Hiền), chi phái họ Lê thôn 6 xã Phù Lưu Tế, trực hệ thiếu uý Quận Công Lê Đạo, huyện Mỹ Đức TP Hà Nội đã tổ chức đón nhận quyết định công nhận: “Dòng...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/trao-quyet-dinh-cong-nhan-dong-ho-nguyen-huu-nguyen-goc-la-ho-le-huu/">Trao quyết định công nhận dòng họ Lê Hữu tại Phù Lưu Tế, Mỹ Đức, Hà Nội</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>HLVN- Sáng  ngày 4/7 /2021 ( tức 25-05-Tân Sửu), ngày chính kỵ của cao tổ Nguyễn Hữu Hiền (Lê Hữu Hiền), chi phái họ Lê thôn 6 xã Phù Lưu Tế, trực hệ thiếu uý Quận Công Lê Đạo, huyện Mỹ Đức TP Hà Nội đã tổ chức đón nhận quyết định công nhận: “Dòng họ Nguyễn Hữu hiện nay, tại thôn 5 thôn 6 xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội nguyên là  gốc họ Lê  Hữu thuộc tuyên tổ phúc hoàng đế Lê Khoáng, thuộc chi phái, Lê Học và Lê Lợi.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2145" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/aa7f9f34e83c8a212539b23dfca0489e-845x1024.jpg" alt="" width="845" height="1024" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/aa7f9f34e83c8a212539b23dfca0489e-845x1024.jpg 845w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/aa7f9f34e83c8a212539b23dfca0489e-247x300.jpg 247w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/aa7f9f34e83c8a212539b23dfca0489e-768x931.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/aa7f9f34e83c8a212539b23dfca0489e.jpg 956w" sizes="auto, (max-width: 845px) 100vw, 845px" /><br />
Hơn 500 trăm năm nay từ khi quốc vương Tư Tề (con trai trưởng của Cao thái tổ Hoàng đế Lê Lợi và Thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ) bị thất sủng truất ngôi, phải đổi họ ẩn tích, nương nhờ họ Nguyễn tại vùng Xốm , Phú Lương, Thanh Oai, Hà Nội. Tuy rằng hàng trăm năm nay đã có chúc thư của triều đại Hậu Lê, sao bản Hậu Nguyễn, Bảo Đại thứ III, năm 1929, nhưng cũng không biết các hậu duệ ẩn tích tại đâu và Chúc thư chỉ nằm trong lưu trữ tại triều đình Huế . Qua các nghiên cứu miệt mài từ năm 2006 tới 2016 &#8211; 2020 của dòng tộc họ Lê, họ Nguyễn, họ Trần cùng nhiều tư liệu như: “Hoàng Lê Ngọc Phả, niên hiệu Cảnh Hưng 1780; Chúc thư Hậu Lê, bản sao Hậu Nguyễn 1929 . Cải họ Nguyễn Hữu thành Lê Hữu, của thủy tổ Tư Tề, Quốc Vương Điện Hạ Hữu Tướng Quốc Lê Hữu Lang”.  Nghiên cứu xác thực “ Trong bộ Ngọc phả họ Nguyễn Tộc, phần: Bách Việt Ngọc Phổ Truyền Thư Đệ Nhất Tập”;  “Quốc Vương Lê Từ truyện ký”, cùng các văn bia, lăng mộ, đền điện, nhà thờ, gia phả, họ Nguyễn, chứng tích tại các vùng Xốm, Phú Lương, Phú</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2142" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/8bdb9fdfb34ada66e6dd62c86ecc464b-767x1024.jpg" alt="" width="767" height="1024" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/8bdb9fdfb34ada66e6dd62c86ecc464b-767x1024.jpg 767w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/8bdb9fdfb34ada66e6dd62c86ecc464b-225x300.jpg 225w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/8bdb9fdfb34ada66e6dd62c86ecc464b-768x1025.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/8bdb9fdfb34ada66e6dd62c86ecc464b.jpg 956w" sizes="auto, (max-width: 767px) 100vw, 767px" /></p>
<p>Lãm, huyện Thanh Oai, Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức Hà Nội nay đã rõ họ Nguyễn Hữu thôn 5 thôn 6, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội, có gốc từ họ Lê Hữu.</p>
<p>Do đang trong thời điểm phòng, chống dịch Covid-19 nên buổi lễ đón nhận quyết định không hội tụ đông đảo bà con dòng họ nhưng vẫn được tổ chức trang nghiêm, long trọng.</p>
<p>Phát biểu tại buổi lễ, cụ Nguyễn Hữu Cung (Lê Hữu Cung) 81 tuổi có 57 năm tuổi Đảng, là thương binh tham gia quân đội năm 1963 rất xúc động “ …tôi muốn khóc vì từ xưa các cụ truyền ngôn họ mình gốc họ Lê Hữu, nhưng chẳng có chứng cứ nào cả. (văn bia đá có ghi, họ Nguyễn Hữu ta gốc họ Lê Hữu, nhưng bia lại ở nhà thứ). Những năm gần đây nhờ kinh tế phát triển, các dòng tộc quan tâm tới cội nguồn, tổ tiên. Dòng họ Nguyễn Hữu có cụ Túc  từ những năm 2000 (cụ Túc nay đã về với tổ tiên) miệt mài đi khắp các tỉnh thành tìm hiểu nghiên cứu, cùng cụ Lê Văn Ánh, nguyên Chủ tịch hội đồng họ Lê Việt Nam, cụ cố Lê Xuân Đồng nguyên ủy viên hội đồng Unesco, nghiên cứu văn hoá các dòng họ Việt Nam nhưng cũng chưa làm rõ được.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2139" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/268138856855b0ee729e2ab724bbb57c.jpg" alt="" width="956" height="785" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/268138856855b0ee729e2ab724bbb57c.jpg 956w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/268138856855b0ee729e2ab724bbb57c-300x246.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/07/268138856855b0ee729e2ab724bbb57c-768x631.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 956px) 100vw, 956px" /></p>
<p>Mãi tới năm 2006-2010 mới sáng tỏ dần dần. Và từ năm 2015-2016 mới tìm thấy trong lưu trữ “Chúc thư Hậu Lê, Sao bản hậu Nguyễn” rồi Hội đồng họ Lê các cấp, các nhà nghiên cứu họ Lê, họ Nguyễn, họ Trần đã giúp làm sáng tỏ”. Công nhận của Hội đồng họ Lê TP Hà Nội hôm nay là minh chứng ban đầu  giúp cho con cháu hôm nay và mai sau có cơ sở để làm thủ tục chuyển từ họ Nguyễn Hữu sang họ Lê Hữu với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có nhu cầu.<br />
Tin, ảnh: <strong>Lê Đình Bình </strong></p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="44"></td>
<td width="950"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/trao-quyet-dinh-cong-nhan-dong-ho-nguyen-huu-nguyen-goc-la-ho-le-huu/">Trao quyết định công nhận dòng họ Lê Hữu tại Phù Lưu Tế, Mỹ Đức, Hà Nội</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/trao-quyet-dinh-cong-nhan-dong-ho-nguyen-huu-nguyen-goc-la-ho-le-huu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thần tích thần sắc Họ Lê Việt  Nam</title>
		<link>https://holevietnam.vn/than-tich-than-sac-ho-le-phieu-tom-tat/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/than-tich-than-sac-ho-le-phieu-tom-tat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[canhnhac]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 10 May 2021 04:01:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<category><![CDATA[Tri ân tiên tổ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2065</guid>

					<description><![CDATA[<p>LÊ CHIÊU Tên thần: Lê Chiêu 黎招 Tên sách: Ninh Bình tỉnh Gia Viễn huyện Vân Trình tổng Bái Tức xã Trung thôn thần tích寧平省嘉遠縣雲程總拜息社中村神蹟 Kí hiệu sách: a4/16, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Số trang: 12 trang, sách chép tay, chữ Hán. Người soạn: Hàn Lâm viện, Đông các Đại học...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/than-tich-than-sac-ho-le-phieu-tom-tat/">Thần tích thần sắc Họ Lê Việt  Nam</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ed1c24;"><strong>LÊ CHIÊU</strong></span></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2073" style="font-size: 14.4px;" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.24.12-202x300.png" alt="" width="202" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.24.12-202x300.png 202w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.24.12.png 385w" sizes="auto, (max-width: 202px) 100vw, 202px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Chiêu 黎招</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Ninh Bình tỉnh Gia Viễn huyện Vân Trình tổng Bái Tức xã Trung thôn thần tích</em>寧平省嘉遠縣雲程總拜息社中村神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a4/16, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>12 trang, sách chép tay, chữ Hán.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Hàn Lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh.</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Vĩnh Hựu thứ 2 (1736)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về Lê Chiêu, cha là Lê Trác người thôn Nhuệ, xã An Hoạch, huyện Thạch Thành, phủ Thiệu Thiên, mẹ là Hoàng Thị Điềm. Ông có tư chất thông minh, thông thạo thiên kinh vạn quyển, giỏi binh thư. Lê Chiêu phò tá đắc lực vua Đinh Bộ Lĩnh trong việc dẹp loạn 12 sứ quân, được Đinh Bộ Lĩnh phong làm Chiêu Nghĩa Đại vương. Sau khi khải hoàn trở về, ông được phong là Chiêu Nghĩa, cấp cho ruộng đất. Ông cùng với ông Thận (em họ của vua Đinh) đến thôn Trung, xã Bái Ân xây dựng cung sở, cố kết lòng dân, hun đúc phong tục tốt đẹp. Sau khi hóa, Ngài được vua Lý Thái Tổ biết rõ là bậc đại thần trung nghĩa nên đã phong tặng làm <strong>Chiêu Nghĩa Đại Vương</strong>, tặng thêm mỹ tự là “<strong>Hùng Lược Chiêu Dung Phụ Quốc Tôn Thần</strong>”, ban sắc chỉ cho thôn Trung, xã Bái Ân phụng thờ.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> thôn Trung, xã Bái Tức, tổng Vân Trình, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. </span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ CHÂN</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2074" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.24.39-210x300.png" alt="" width="210" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.24.39-210x300.png 210w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.24.39.png 386w" sizes="auto, (max-width: 210px) 100vw, 210px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Chân黎真</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hải Phòng (tỉnh) Hải An huyện Đông Khê tổng An Biên xã thần tích</em>海防省海安縣東溪總安邉社神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a20/11, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>11 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Hàn Lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh.</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Hồng Phúc nguyên niên (1572)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về Lê Chân quê ở làng An Biên, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Tri%E1%BB%81u">Đông Triều</a>, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, cha là Lê Đạo và mẹ bà là Trần Thị Châu. Lê Chân lớn lên là người có nhan sắc, giỏi võ nghệ lại có tài thơ phú. Sau khi cha mẹ bị sát hại, bà phải rời bỏ quê theo đường sông xuôi xuống phía Nam, đến vùng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/An_D%C6%B0%C6%A1ng,_H%E1%BA%A3i_Ph%C3%B2ng">An Dương</a>, cửa <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_C%E1%BA%A5m">sông Cấm</a>. Thấy địa hình, đất đai thuận lợi, bà dừng lại lập trại khai phá, chiêu mộ trai tráng để luyện binh. Khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng">Hai Bà Trưng</a>dấy binh khởi nghĩa, bà đã đem theo binh lính gia nhập quân <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng">khởi nghĩa của Hai Bà Trưng</a> và lập được nhiều chiến công. Lê Chân được <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0ng_Tr%E1%BA%AFc">Trưng Vương</a> phong là <strong>Thánh Chân công chúa</strong>, giữ chức chưởng quản binh quyền nội bộ, đứng ra tổ chức, luyện tập quân sĩ, tăng gia sản xuất. Sau khi hóa, bà được các vua đời sau cũng có chiếu phong là: <strong>Thánh Chân Công Chúa Thượng Đẳng Phúc Thần</strong>, ban sắc chỉ cho xã An Biên, huyện An Dương phụng thờ.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã An Biên, tổng Đông Khê, huyện Hải An, tỉnh Hải Phòng.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;"> LÊ LAI</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2075" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.27-163x300.png" alt="" width="163" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.27-163x300.png 163w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.27.png 304w" sizes="auto, (max-width: 163px) 100vw, 163px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Lai黎來</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Thường Tín phủ Thượng Phúc huyện Cổ Hiền tổng Quần Hiền xã thần tích</em>河東省常信府上福縣古賢總群賢社神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/90, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>16 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Lễ Bộ, Hàn Lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh.</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Hồng Phúc nguyên niên (1572)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về bốn anh em nhà họ Lê, gồm Lê Lai, Lê Lợi, Lê Thạch, Lê Thiện, người huyện Ngọc Lặc, đạo Thanh Hóa. Trước tình cảnh nhà Hồ suy tàn, dân chúng lầm than, quân Minh xâm lược bờ cõi, bốn anh em nhà họ Lê đã chiêu mộ hiền tài, dựng nước xưng vương, lập ra đội ngũ tướng lĩnh, dấy binh khởi nghĩa ở đất Lam Sơn dẹp loạn nhà Hồ, chống quân Minh xâm lược. Trong đó, thần tích ghi chép cụ thể về việc Lê Lai đem quân đến trại Bảo Hiền, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, thành Thăng Long xây dựng đồn lũy ứng phó quân Minh, khiến cho dân chúng được yên ổn. Khi bọn Trần Trung, Liễu Thăng nhà Minh đem quân sang xâm lược, ông đã dẫn suất quân lính ra ứng chiến, song trong tình thế nguy cấp, ông đã cải trang thành Lê Lợi và bị quân Minh giết chết. Lê Lai được phong tặng là: <strong>Tế Thế Hộ Quốc Hiển Ứng Anh Linh Thượng Đẳng Thần</strong>. Đến đời vua Lê Nhân Tông, ông được truy phong là: <strong>Tế Thế Dực Thánh Khang Dân Phù Vận Trung Liệt Đại Vương</strong>, ban sắc cho trang Bảo Hiền phụng thờ.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Quần Hiền, tổng Cổ Hiền, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ (?)</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2076" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.43-182x300.png" alt="" width="182" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.43-182x300.png 182w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.43.png 348w" sizes="auto, (max-width: 182px) 100vw, 182px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê [?] 黎 [?]</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Thanh Hóa tỉnh Đông Sơn huyện Quảng Chiếu tổng An Hoạch xã Thượng thôn thần tích</em>清化省東山縣廣照總安穫社上村神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>b2/6, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>10 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Hàn Lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Vĩnh Hựu thứ 3 (1737)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về Lê [?], là người có tư chất thông minh, giỏi kinh sách, trên thông thiên văn dưới tường địa lý. Ông từng thi đỗ khoa trường, được phong là <strong>Sĩ Trí Thừa tướng</strong>. Khoảng năm Đoan Khánh, ông dẫn lĩnh binh lính đánh dẹp quân Đông di xâm phạm cướp bóc, được phong tặng thêm là <strong>Sĩ Trí Thừa tướng quyền chưởng Nguyên soái Đại tướng quân</strong>. Trong khi đi tuần trấn phủ qua trấn Thanh Hoa, ông đã xây dựng cung sở ở khu trang Nhuệ, xã An Hoạch, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, bỏ ra tiền của cứu giúp người nghèo, khuyến khóa nông tang, lòng dân yêu kính. Sau khi xin về trí sĩ, ông đến trấn Nghệ An dạy học. Sau khi mất, dân chúng trang Nhuệ cảm ân đức của ông mà xin lập đền phụng thờ.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> thôn Thượng, xã An Hoạch, tổng Quảng Chiếu, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ PHỤNG HIỂU</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2077" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.56-143x300.png" alt="" width="143" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.56-143x300.png 143w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.25.56.png 260w" sizes="auto, (max-width: 143px) 100vw, 143px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Phụng Hiểu黎奉曉</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Thanh Hóa tỉnh Thọ Xuân phủ Nam Dương tổng Lư Khánh xã thần tích</em>清化省壽春府南陽總閭慶社神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>b2/10, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>7 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Không ghi</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Không ghi</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về Lê Phụng Hiểu. Ông có tư chất thông minh, khôi ngô, cao lớn, giỏi võ nghệ, là đô vật có tiếng không có đối thủ. Ngài đã giúp xã đứng ra giúp làng Cổ Bi giành đất với xã Đàm Xá mà vốn lẽ thuộc về làng Cổ Bi. Lê Phụng Hiểu có công lớn dẹp loạn phản nghịch, phò Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi vua, tức Lý Thái Tôn. Sau khi làm lễ đăng quang, vua Lý Thái Tông thăng luôn cho Lê Phụng Hiểu lên chức Đô thống Thượng tướng quân, tước hầu. Ông một lòng phò tá nhà Lý lập được nhiều công trạng lớn, đánh đuổi Chiêm Thành, giữ vững ổn định cho đất nước <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t">Đại Việt</a>bên trong cũng như bên ngoài. Sau khi hóa, nhà vua phong ông là <strong>Thượng Đẳng Phúc Thần</strong>.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Lư Khánh, tổng Nam Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">TRẦN THỊ NGỌC</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2078" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.15-167x300.png" alt="" width="167" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.15-167x300.png 167w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.15.png 263w" sizes="auto, (max-width: 167px) 100vw, 167px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Trần Thị Ngọc 陳氏玉</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Lãng Động Thượng xã thần tích</em>朗洞上社神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>b2/17, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>6 trang, sách chép tay, chữ Hán.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Lý trưởng Trịnh Xuân Khiêm sao chép.</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Bảo Đại thứ 6 (1931) sao chép.</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về bà Quốc mẫu Hoàng Thái hậu đời Lệ, tên họ là Trần Thị Ngọc. Bà là vợ Lê Lợi &#8211; thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau trở thành vua <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%E1%BB%95">Lê Thái Tổ</a>.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> thôn Thượng, xã Lãng Động.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ DU</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2079" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.29-149x300.png" alt="" width="149" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.29-149x300.png 149w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.29.png 266w" sizes="auto, (max-width: 149px) 100vw, 149px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Du 黎瑜</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Ninh Bình tỉnh Yên Khánh phủ Yên Khánh huyện Yên Vệ tổng các xã thôn thần tích</em>寧平省安慶府安慶縣安衛總各社村神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a4/32, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>1 trang, sách chép tay, chữ Hán.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Không ghi</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Không ghi</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về Lê Du, tên húy là Du, tên tự là Hân, thụy là Hồng Nguyên. Vào khoa Nhâm Thìn năm Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705), đời Lê, ông thi đỗ tứ trường. Khoa thi Hội, ông đỗ Tam giáp, kính vâng đảm nhiệm Thị nội Văn chức, Dụ Đức Tả Thị lang, Quốc tử giám, Quốc tử sinh kiêm Thị giảng Thiêm sự, Hàn lâm Đông các Đại học sĩ,&#8230;</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã An Vệ, tổng Yên Vệ, huyện Yên Khánh, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ LỘNG</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2080" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.42-177x300.png" alt="" width="177" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.42-177x300.png 177w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.42.png 255w" sizes="auto, (max-width: 177px) 100vw, 177px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Lộng 黎弄</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Thanh Hóa tỉnh Thọ Xuân phủ Bất Nạo tổng Công Lập thôn thần tích</em>清化省壽春府不撓總功立村神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>b2/16, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>4 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Không ghi</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Không ghi</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về Lê Lộng, viên tướng tài ba. Dưới thời Lê sơ, ông cùng với các tướng lĩnh thống lĩnh binh lính chiến đấu chống quân xâm lược nhà Ngô, và dành được nhiều chiến công to lớn. Ông còn sớm tham gia vào đội ngũ nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi. Năm Mậu Thân (1428), Lê Lộng được phong chức vị, tựớc Khang Vũ hầu. Năm Kỉ Tị, ông bị ốm mà chết, được phong tặng là: <strong>Thái Úy Khang Quốc Công. </strong>Có sắc ban cho các đạo phụng thờ.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> thôn Công Lập, tổng Bất Nạo, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ HOẰNG</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2081" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.59-137x300.png" alt="" width="137" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.59-137x300.png 137w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.26.59.png 257w" sizes="auto, (max-width: 137px) 100vw, 137px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Hoằng黎弘, Lê Vũ黎武, Lê Uy黎威</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Thường Tín phủ Thượng Phúc huyện Thượng Cung tổng Thượng Cung xã thần tích</em>河東省常信府上福縣上供總上供社神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/98, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>10 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Bộ Lễ, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính.</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Hồng Phúc nguyên niên (1572)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về 3 anh em Lê Hoằng, Lê Vũ, Lê Uy, người trang Thượng Hồng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, cha Lê Đoan, vợ là Phạm Thị Thành, võ nghệ toàn tài, được vua Lê Thái Tổ tín nhiệm cho là <em>Thần tướng</em>, nắm quyền quản thủy bộ. Ba ông thống lĩnh binh mã dẹp yên giặc Chiêm Thành xâm lấn bờ cõi đất nước. Trên đường trở về triều, ba ông đi qua bản quán, mỗi người đồn trú một cõi đất ở đấy mà không trở về triều, rồi ba ông đều hóa ở đấy. Nhà vua ban sắc chỉ cho người dân trang Thượng Hồng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, lập miếu phụng thờ ở nơi hóa của các ông, phong tặng các ông lần lượt là: <em>Đương Cảnh Thành Hoàng Ứng Linh Hiển Hựu Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương, Đương Cảnh Thành Hoàng Nam Hải Hộ Quốc Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương, Đương Cảnh Thành Hoàng Đông Hải Uy Linh Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương</em>. Tiếp sau, văn bản ghi chép ngày hóa, tên húy, định lệ lễ cúng tế.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Thượng Cung, tổng Thượng Cung, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ PHỤNG HIỂU</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2082" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.39.45-204x300.png" alt="" width="204" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.39.45-204x300.png 204w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.39.45.png 376w" sizes="auto, (max-width: 204px) 100vw, 204px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Phụng Hiểu黎奉曉</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>???</em></li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/99, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>12 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm.</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Hiền kính ghi chép.</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Duy Tân thứ 4 (1910) sao chép.</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích về hai vị Đại Vương là Lê Phụng Hiểu và Lý Thường Minh. Trong đó, ghi về Lê Phụng Hiểu, người có diện mạo phi thường, giỏi võ nghệ, có công dẹp loạn phản nghịch, đánh phạt giặc Chiêm. Sau đó, Ngài tuần du khắp bốn bể, rồi hóa ở trang Văn Giáp. Nhà vua liền lệnh cho người dân trang ấy xây dựng đình để phụng thờ ông. Có bài thơ gồm 4 câu ca ngợi Ngài. Vua ban sắc phong là <strong>Thượng Đẳng Thần</strong>. Tiếp sau, văn bản ghi chép ngày hóa, tên húy, định lệ lễ cúng tế các tiết trong năm.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Giáp Văn.</span></li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ed1c24;"><strong>LÊ TRIỆN</strong></span></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2083" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.40.44-218x300.png" alt="" width="218" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.40.44-218x300.png 218w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.40.44.png 328w" sizes="auto, (max-width: 218px) 100vw, 218px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Triện 黎篆</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Chương Mỹ huyện các xã thần tích </em>河東省彰美縣各社神蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/3, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>8 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Không rõ</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Hồng Thuận nguyên niên (1509)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích ghi sự tích Tướng quân Lê Triện. Ngài họ Lê, húy Triện, người phủ Bái Đô, làm quan thời Lê Thái Tổ. Khi Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Triện cùng Lê Lễ, Lê Ngân, Lê Bí, Lê Xí tham gia phụ tá, đánh đuổi quân Minh, trở thành công thần nhà Lê. Sau được phong Tây Kỳ vương Thượng đẳng thần, lập miếu ở An Duyệt, nhiều lần hiển ứng.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã An Duyệt, tổng Mỹ Lương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông</span></li>
</ol>
<p><span style="color: #ed1c24;"><strong>LÊ MINH THỰ</strong></span></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2084" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.40.55-165x300.png" alt="" width="165" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.40.55-165x300.png 165w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.40.55.png 243w" sizes="auto, (max-width: 165px) 100vw, 165px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Minh Thự 黎 明 署</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Sơn Lãng huyện Đại Bối tổng Giang Triều xã Thần tích </em>河 東 省 應 和 府 山 郎 縣 大 貝 總 各 社 神 蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/49, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>33 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Nguyễn Bính Soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572)</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Nguyễn Nguyễn Hiền sao chép năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1735)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích Lê Minh Thự người xã Đan Nê huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên châu Ái, cha là Lê Danh Mĩ, mẹ là Trần Phương Nương người Giang Triều. Lê Minh Thự phò tá Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn bình định giặc Ngô (quân Minh). Lê Lợi lên ngôi phong Lê Minh Thự là Hiển Đức Bảo Hựu Đại vương. Sau Lê Minh Thự xin về quê mẹ, xem xét địa thế xây dựng cung sở. Nhân dân Giang Triều, Đại Bối nghênh đón xin làm thần tử. Sau khi hóa, Ngài được vua ban sắc phong Thượng đẳng Phúc thần, nhân dân Giang Triều phụng thờ.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Giang Triều, tổng Đại Bối, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #ed1c24;">LÊ ĐẠI BIÊN</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2085" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.41.10-199x300.png" alt="" width="199" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.41.10-199x300.png 199w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.41.10.png 258w" sizes="auto, (max-width: 199px) 100vw, 199px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương 黎 大 顛 覺 皇 禪 師 大 王</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Hoài Đức phủ Từ Liêm huyện Dịch Vọng tổng Dịch Vọng Tiền xã Thần tích </em>河 東 省 懷 德 府慈 廉 縣 驛 望 總 驛 望 前社神 蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/60, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>45 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Nguyễn Bính Soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572)</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Nguyễn Nguyễn Hiền sao chép năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1735)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Niên hiệu Đại Khánh triều Lý, ở phủ Thanh Hoa có trẻ lên ba tự xưng Hoàng tử, hiệu là Giác Hoàng hoàng đế, được vua đón về cung. Sau khi Giác Hoàng bị bệnh mất, thác sinh ở trong cung. Sau khi mất được sắc phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Dịch Vọng Tiền</span></li>
</ol>
<p><strong><span style="color: #d83131;">LÊ ĐẠI GIÁC THIÊN SƯ ĐẠI VƯƠNG</span></strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2087" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.45.04-216x300.png" alt="" width="216" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.45.04-216x300.png 216w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.45.04.png 266w" sizes="auto, (max-width: 216px) 100vw, 216px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương 黎 大 顛 覺 皇 禪 師 大 王</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Hoài Đức phủ Từ Liêm huyện Dịch Vọng tổng Dịch Vọng Tiền xã Thần tích </em>河 東 省 懷 德 府慈 廉 縣 驛 望 總 驛 望 前社神 蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/60, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>45 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm</li>
<li><strong>Người soạn:</strong> Nguyễn Bính Soạn năm Hồng Phúc thứ nhất (1572)</li>
<li><strong>Niên đại:</strong> Nguyễn Nguyễn Hiền sao chép năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1735)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Niên hiệu Đại Khánh triều Lý, ở phủ Thanh Hoa có trẻ lên ba tự xưng Hoàng tử, hiệu là Giác Hoàng hoàng đế, được vua đón về cung. Sau khi Giác Hoàng bị bệnh mất, thác sinh ở trong cung. Sau khi mất được sắc phong là Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> xã Dịch Vọng Tiền</span></li>
</ol>
<p><span style="color: #d83131;"><strong>LÊ CÔNG HÀNH</strong></span></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-2086" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.41.18-197x300.png" alt="" width="197" height="300" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.41.18-197x300.png 197w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/05/Ảnh-chụp-Màn-hình-2021-05-10-lúc-11.41.18.png 257w" sizes="auto, (max-width: 197px) 100vw, 197px" /></p>
<ol>
<li><strong>Tên thần: </strong>Lê Công Hành 黎 公 衡</li>
<li><strong>Tên sách:</strong> <em>Hà Đông tỉnh Thường Tín phủ Thượng Phúc huyện Bình Lăng tổng Vũ Lăng xã Đào Xá thôn Bản nghệ Thần tích </em>河 東 省 常 信 府 上 福 縣 平 陵 總 武陵社陶 舍村神 蹟</li>
<li><strong>Kí hiệu sách: </strong>a2/88, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm</li>
<li><strong>Số trang: </strong>9 trang, sách chép tay, chữ Hán, có chữ Nôm</li>
<li><strong>Người soạn:</strong></li>
<li><strong>Niên đại:</strong> sao chép năm Khải Định 3 (1918)</li>
<li><strong>Tóm lược nội dung:</strong> Thần tích về ngài tên húy là Công Hành, nguyên họ Bùi, được ban quốc tính họ Lê, người Quất Động, Thượng Phúc (tức xã Quất Động tổng Bình Lăng huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín). Thời Lê Thái Tông niên hiệu Thiệu Bình, ngài sang Yên Kinh tuế cống. Sau ngài đem nghề thêu và nghề làm lọng học được Yên Kinh về dạy cho dân xã Vũ Lăng. Sau khi mất được dân xã tôn làm Bản nghệ Tiên sư, thời Lê Cảnh Hưng phong làm Phúc thần.</li>
<li><strong style="color: #555555; font-size: 14.4px;">Địa danh:</strong><span style="color: #555555; font-size: 14.4px;"> thôn Đào Xá, xã Vũ Lăng.</span></li>
</ol>
<p><strong><em>(Còn tiếp)</em></strong></p>
<p><strong>BAN NGHIÊN CỨU PHẢ TÔC &#8211; HĐHL  VIỆT NAM</strong></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/than-tich-than-sac-ho-le-phieu-tom-tat/">Thần tích thần sắc Họ Lê Việt  Nam</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/than-tich-than-sac-ho-le-phieu-tom-tat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguồn gốc Họ Lê Việt Nam qua các nguồn phả, ngọc phả của một số dòng họ Lê và các nguồn tư liệu khác</title>
		<link>https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho-le-viet-nam-qua-cac-nguon-pha-ngoc-pha-cua-mot-so-giong-ho-le-va-cac-nguon-tu-lieu-khac/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho-le-viet-nam-qua-cac-nguon-pha-ngoc-pha-cua-mot-so-giong-ho-le-va-cac-nguon-tu-lieu-khac/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 21 Mar 2021 12:47:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên cứu dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=1787</guid>

					<description><![CDATA[<p> Lịch sử 4.000 năm của cộng đồng người Việt sống trên đất nước Việt Nam đã được sử sách lưu dấu từ khi hình thành nhà nước Văn Lang của các vua Hùng cho tới ngày nay. Theo dòng chảy lịch sử, cùng với sự hình thành các tộc người Việt cũng đã hình thành...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho-le-viet-nam-qua-cac-nguon-pha-ngoc-pha-cua-mot-so-giong-ho-le-va-cac-nguon-tu-lieu-khac/">Nguồn gốc Họ Lê Việt Nam qua các nguồn phả, ngọc phả của một số dòng họ Lê và các nguồn tư liệu khác</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: 16px;"> Lịch sử 4.000 năm của cộng đồng người Việt sống trên đất nước Việt Nam đã được sử sách lưu dấu từ khi hình thành nhà nước Văn Lang của các vua Hùng cho tới ngày nay. Theo dòng chảy lịch sử, cùng với sự hình thành các tộc người Việt cũng đã hình thành các họ tộc của người Việt Nam từ xa xưa như: họ Đinh, Lê, Lý, Trần, Trịnh, Nguyễn, Hồ, Võ, Trương, Ngô, Phan&#8230; tạo nên cộng đồng hơn 54 dân tộc của người Việt, góp phần nên sự trường tồn của Đại Việt xưa và Việt Nam ngày nay. Họ Lê là một trong những giòng họ phổ biến ở nước ta, quy mô lớn, chiếm 15% dân số nước ta hiện nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-1792" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/IMG20180928080804.jpg" alt="" width="832" height="624" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/IMG20180928080804.jpg 832w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/IMG20180928080804-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2021/03/IMG20180928080804-768x576.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 832px) 100vw, 832px" /><br />
<span style="font-size: 16px;">Họ Lê Việt Nam theo chiều dài lịch sử đã được hình thành từ rất sớm, mang nét đặc thù thuần Việt như trong một số nghiên cứu của một số tác giả. Họ Lê Việt Nam đã định cư khu vực đồng bằng sông Mã, vùng ven biển Ninh Bình từ rất lâu đời. Trong suốt 1000 năm bị chế độ phong kiến phương Bắc thống trị, chưa tìm thấy tên các vị quan Trung </span><span style="font-size: 16px;">Quốc mang họ Lê sang Việt Nam cai trị, làm quan (Theo </span><span style="font-size: 16px;">An Nam chí lược của Lê Tắc).</span><br />
<span style="font-size: 16px;">1. Nguồn gốc Họ Lê thời tiền sử qua Lê gia phả ký của Họ </span><span style="font-size: 16px;">Lê – Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội </span><span style="font-size: 16px;">(gia phả của Họ Lê – Bối Khê hiện còn bản gốc Hán Nôm </span><span style="font-size: 16px;">và được Bảo tàng Hà Tây, tỉnh Hà Tây (cũ) dịch): </span><span style="font-size: 16px;">Tôi đã có dịp cùng với anh Trinh Dung về thăm chùa Bối </span><span style="font-size: 16px;">Khê 3 năm trước, gặp bác Lê Văn Tập trưởng tộc Lê Phúc-</span><span style="font-size: 16px;">2 </span><span style="font-size: 16px;">Bối Khê nên mới biết một phần câu chuyện lịch sử họ Lê</span><br />
<span style="font-size: 16px;">qua cuốn gia phả của giòng họ này..</span><span style="font-size: 16px;">Chùa Bối Khê (thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh </span><span style="font-size: 16px;">Oai, tỉnh Hà Tây) cách thủ đô Hà Nội chừng 25km về phía </span><span style="font-size: 16px;">Tây Nam. Nơi đây hiện tồn Lăng và hai nhà thờ họ Lê nằm </span><span style="font-size: 16px;">tĩnh tại dưới những tán cây cổ thụ rêu phong. Đây là giòng </span><span style="font-size: 16px;">họ nổi tiếng, thủy tổ Quận công Lê Phúc An, được mệnh </span><span style="font-size: 16px;">danh là dòng “Thi thư thế trạch &#8211; võ văn thế thất”. Giòng </span><span style="font-size: 16px;">họ này còn giữ được rất nhiều “di bảo” của tổ tiên truyền </span><span style="font-size: 16px;">lại. Một trong những “báu vật” ấy là cuốn Lê gia phả ký </span><span style="font-size: 16px;">do Hoài Viễn tướng quân điện tiền Đô chỉ huy sứ tư Đô chỉ </span><span style="font-size: 16px;">huy sứ Viên triệu hầu Lê Đình Trân khởi thảo phần “Thanh </span><span style="font-size: 16px;">Oai Bối Khê Lê gia phả ký cựu biên tự” năm Nhâm Tuất, </span><span style="font-size: 16px;">tức năm Cảnh Hưng 3 (1742); đến năm Nhâm Tý, tức năm </span><span style="font-size: 16px;">Chiêu Thống 3 (1789), tức Kỷ Hợi Thịnh khoa nhị giáp </span><span style="font-size: 16px;">Tiến sỹ xuất thân triều thụy đại phu Hàn lâm viện thị độc </span><span style="font-size: 16px;">Sơn Nam Hiệp trấn Ứng Khê hầu Lê Huy Trâm hiệu đính </span><span style="font-size: 16px;">và biên chép tiếp mục “Thanh Oai Lê gia phả tiền biên </span><span style="font-size: 16px;">tự”; năm Đinh Dậu, tức năm Thành Thái 9, Hàn lâm Lê Tân </span><span style="font-size: 16px;">viết tiếp phần “Thanh Oai Bối Khê Lê tộc hội mộ độc </span><span style="font-size: 16px;">biên sách dẫn” thì cuốn Lê gia phả ký mới hoàn thiện, chỉn </span><span style="font-size: 16px;">chu và truyền đến ngày nay.. </span><span style="font-size: 16px;">Đây là một cuốn gia phả khá đồ sộ, mang tính hàn lâm bác </span><span style="font-size: 16px;">học, được chia thành các phần rất rõ ràng. Cuốn gia phả này </span><span style="font-size: 16px;">được phó bảng Bùi Kỷ và nhà văn kiêm lương y Nguyễn Tử </span><span style="font-size: 16px;">Siêu đánh giá rất cao, gồm 181 trang chữ Hán, chữ viết chân </span><span style="font-size: 16px;">phương, văn phong bay bổng. Mỗi phần trong gia phả có </span><span style="font-size: 16px;">thể coi là một sự kiện của giòng họ viết về các cụ hiển danh, </span><span style="font-size: 16px;">từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình phong</span><br />
<span style="font-size: 16px;">kiến Lê &#8211; Trịnh xưa.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Trong bài tựa gia tộc phả của cụ Lê Đình Trân, tước Viên </span><span style="font-size: 16px;">Triệu hầu, viết ngày 16 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1742) đời </span><span style="font-size: 16px;">vua Lê Hiển Tôn niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba: Họ Lê ta bắt </span><span style="font-size: 16px;">đầu từ thời vua Bàn Cổ. Ở nước Việt nam có họ Lê từ đời </span><span style="font-size: 16px;">vua Đế Minh (cháu 3 đời vua Thần Nông) đi kinh lý phương </span><span style="font-size: 16px;">nam, đến núi Ngũ Lĩnh phong cho con là Kính Dương </span><span style="font-size: 16px;">Vương làm vua là họ Hồng-Bàng.</span><span style="font-size: 16px;">Kể từ khi có trời đất, có con người là có họ Lê. Bên nước </span><span style="font-size: 16px;">Trung quốc sau đời Thiếu Hiệu có họ Cửu Lê, đời Đường </span><span style="font-size: 16px;">Nghiêu có họ Chủng Lê (sau đời Lê Hy Hoà) đời Ân có Lê </span><span style="font-size: 16px;">Quốc, đời Chu có Lê Hầu, đời Xuân Thu có LêThự, đời Hậu </span><span style="font-size: 16px;">Lê có Lê Thục, Lê Khai (Niên hiệu Thiên Hoà) đời Tống có </span><span style="font-size: 16px;">Lê Chí, Lê Thuần. Dòng dõi sinh ra nhiều tất nhiên có nhiều </span><span style="font-size: 16px;">biện phái không biết các cụ làm quan bên Trung Quốc có </span><span style="font-size: 16px;">biết rõ được thế hệ không. </span><span style="font-size: 16px;">Tổ họ Lê có từ đó tức là có trước đời Thiếu Hiệu. Từ ấy về </span><span style="font-size: 16px;">sau, con cháu sinh ra ngày càng nhiều. Tản cư chỗ nào cũng </span><span style="font-size: 16px;">có, nhiều nơi đã nỗi tiếng là Thế gia cư tộc. Từ vua Lê Đại </span><span style="font-size: 16px;">Hành nối ngôi nhà Đinh, qua nhà Lý, nhà Trần đến nay đời </span><span style="font-size: 16px;">nào cũng có người hiển đạt . Đời lý có Lê Phụng Hiểu, Lê </span><span style="font-size: 16px;">Bá Ngọc. Đời Trần có Lê Bá Quát, Lê Văn Hưu, Lê Duy, </span><span style="font-size: 16px;">Lê Cư Nhân, Lê Cảnh Tuân, Lê Phụ Trần. </span><span style="font-size: 16px;">Đức Triệu tổ tên là Lê Hối ở núi Lam Sơn được bốn đời </span><span style="font-size: 16px;">truyền đến Lê Lợi tức là vua Lê Thái Tổ lên làm vua (1428-1433) cùng các bậc danh thần như các ông Lê Thạch, Lê </span><span style="font-size: 16px;">Khôi, Lê Văn Linh&#8230; Đời Trung hưng có ông: Lê Bá Ly, Lê</span><br />
<span style="font-size: 16px;">ích Mộc, Lê Nại&#8230; xem thế đủ biết tiên tổ họ Lê có từ xưa </span><span style="font-size: 16px;">là thực vậy.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Duy họ Lê ta (họ Lê – Bối Khê) từ Lê Trung Hưng niên </span><span style="font-size: 16px;">hiệu Nguyên Hoà, đời vua Trang Tông (1533-1548) là cụ </span><span style="font-size: 16px;">Lê Đạt Nghị, mới từ xã Khê tang sang ở xã Bối khê đến nay  </span><span style="font-size: 16px;">là sáu đời đã 200 năm. Ông bác ta là Lê Tiến Quý làm quan </span><span style="font-size: 16px;">đến chức Thái bảo Thượng trụ quốc thống Trường quận </span><span style="font-size: 16px;">công.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">* Chú thích: Bàn Cổ</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Bàn Cổ là thần thoại về khai thiên lập địa Trung Quốc có </span><span style="font-size: 16px;">một lịch sử rất lâu dài. Theo truyền thuyết, thì từ thời Hoàng </span><span style="font-size: 16px;">Đế tới nay, đã ngót 5000 năm. Trong gần 5000 năm lịch sử </span><span style="font-size: 16px;">Trung Quốc có rất nhiều câu chuyện có ý nghĩa, trong đó, </span><span style="font-size: 16px;">nhiều câu chuyện đã được ghi chép trong sử sách. Còn về </span><span style="font-size: 16px;">thời viễn cổ từ 5000 năm về trước thì chưa có văn tự </span><span style="font-size: 16px;">ghi chép, nhưng vẫn lưu truyền lại một số thần thoại và </span><span style="font-size: 16px;">truyền thuyết.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">2. Nguồn gốc Họ Lê – Việt Nam qua tư liệu tại Bảo tàng </span><span style="font-size: 16px;">Chí Linh được Hội đồng Họ Lê Quảng Nam Đà Nẵng ghi </span><span style="font-size: 16px;">chép, thỉnh về Quảng Nam Đà Nẵng năm 1978 (bản quốc </span><span style="font-size: 16px;">ngữ, không tìm thấy bản Hán Nôm): </span><span style="font-size: 16px;">Tiền nhân thường nói con giòng cháu giống nhà Lê bất diệt. </span><span style="font-size: 16px;">Từ Kinh Triệu Quận hữu niệm từ đời Tiên Hoàng nguyên </span><span style="font-size: 16px;">thủy của tiền nhân ta để lại. Hồng hiện sơ khai nói cả loài </span><span style="font-size: 16px;">người khởi đầu từ thế kỷ khai nguyên giòng giống ta đã có. </span><span style="font-size: 16px;">Riêng phần họ ta thuộc về Châu Á do giòng giống Lạc Hồng </span><span style="font-size: 16px;">phát sinh. Âu Cơ và Lạc Long Quân xuất hiện, con rồng </span><span style="font-size: 16px;">cháu tiên ra đời.</span><span style="font-size: 16px;">Tục thường gọi trăm trứng nở ra trăm con dùng bách tánh </span><span style="font-size: 16px;">phân chia trăm nhà, trăm họ cả nam lẫn nữ (khi chết chia </span><span style="font-size: 16px;">làm trăm quận, phân chia như thế để chết sống phân biệt dễ </span><span style="font-size: 16px;">biết).</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Vào khoảng đại nguyên thứ 1 các bậc tiền nhân vô định.</span><span style="font-size: 16px;">Cuối đời Hùng Vương thứ 18, Nam Đế khi đó loạn thần, </span><span style="font-size: 16px;">Thục, Ngô, Ngụy, Triệu nổi lên biến cảnh chiến tranh huynh </span><span style="font-size: 16px;">đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, kỳ thị chủng tộc, hiệp lực các </span><span style="font-size: 16px;">tộc mạnh đánh các tộc yếu, ai hơn thì chiếm đất đai xưng </span><span style="font-size: 16px;">Vương, xưng Bá, ai yếu thua phải bỏ xứ chôn nhau cắt rốn </span><span style="font-size: 16px;">đi nơi khác, làm ăn sinh sống. </span><span style="font-size: 16px;">Cho nên ông bà tiền thân ta hiệp cùng các tộc yếu khác phải </span><span style="font-size: 16px;">bỏ nơi chôn nhau, cắt rốn ra đi mang mối hận muôn đời.</span><span style="font-size: 16px;">Đầu tiên, ông bà ta định cư cạnh bờ nam sông Dương Tử </span><span style="font-size: 16px;">(tức tỉnh Quảng Đông bây giờ), lập nhóm tụ họp đoàn kết </span><span style="font-size: 16px;">làm ăn. Mãi những năm tháng chuỗi ngày trôi qua, nguôi </span><span style="font-size: 16px;">dần thù hận. Nhưng cây muốn lặng mà gió lại không ngừng,</span><span style="font-size: 16px;">từng cơn nổi giận cứ vang lên khôn nguôi. </span><span style="font-size: 16px;">Thế rồi lại bị giặc đuổi theo ỷ sức mạnh của mình bày trò </span><span style="font-size: 16px;">tàn ác.</span><span style="font-size: 16px;">Một lần nữa ông bà tiền thân ta lại chạy qua mảnh đất bên </span><span style="font-size: 16px;">kia sông Nhị Hà thuộc tỉnh Quảng Tây bây giờ được 2 năm </span><span style="font-size: 16px;">trong thời gian tạm yên, đời sống cần cù vất vả, đầu óc vẫn </span><span style="font-size: 16px;">luôn luôn vương vấn hận thù.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px;">Không ngờ nạn chiến tranh lấn chiếm tiếp diễn thời bấy giờ </span><span style="font-size: 16px;">là sự bất quá tam của những người bỏ xứ ra đi một phương </span><span style="font-size: 16px;">trời lại được 23 tộc như sau: Đinh, Lê,Trần, Phạm, Mã, </span><span style="font-size: 16px;">Lương, Hồ, Mạc, Nguyễn, Đặng, Võ, Ông, Thái, Châu, </span><span style="font-size: 16px;">Phùng, Cù, Văn, Đàm, Hà, Lý, Tôn, Hứa, Trịnh, tổng kết </span><span style="font-size: 16px;">được 3,700 dân từ lớn đến nhỏ (nam, nữ kể chung). Kẻ </span><span style="font-size: 16px;">trước, người sau cứ phương Nam mà Tiến, ngày đi, đêm </span><span style="font-size: 16px;">nghỉ, cuối cùng tràn qua xử đất Nam mang, biên giới Lạng,</span><span style="font-size: 16px;">Hà Nam xứ này đời xưa gọi là ranh giới đều tay áo những </span><span style="font-size: 16px;">dân tộc chậm tiến. Đến đây tiền thân là cùng сác Tộc bằng </span><span style="font-size: 16px;">dựng tướng Lạc Hùng (cháu Hùng Vương) sắp đặt binh bị </span><span style="font-size: 16px;">để chống lại kẻ thù không đội trời chung là(Trung Quốc bây </span><span style="font-size: 16px;">giờ).</span><br />
<span style="font-size: 16px;">3. An Dương Vương là Tổ Họ Lê theo sách Lễ hội và Danh </span><span style="font-size: 16px;">nhân Lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Hùng Tiến (Nhà xuất </span><span style="font-size: 16px;">bản Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997): </span><span style="font-size: 16px;">Kể từ lúc Hồng Bàng dựng nước, truyền 108 vị vua kể cả </span><span style="font-size: 16px;">Phù Đổng, Tản Viên và 18 vị vua Hùng, đến đời Hùng </span><span style="font-size: 16px;">Vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương tên húy là Duệ Lang </span><span style="font-size: 16px;">(Huệ Lang) hạ sinh 22 Hoàng nam, 24 Hoàng nữ, thời kỳ</span><span style="font-size: 16px;">đầu rất thông minh chính trực, nhưng từ khi lấy một người </span><span style="font-size: 16px;">họ Lê là cô ruột của Thục Phán, Hùng Huệ Vương lại đam </span><span style="font-size: 16px;">mê tửu sắc, bị Thục Vương và Cao Lỗ lừa phục rượu, để cô </span><span style="font-size: 16px;">của Thục Phán sai giết hết tất cả con trai, con gái, dâu rể.</span><span style="font-size: 16px;">Cơ đồ nhà Hùng đang văn minh rực rỡ bỗng chốc rơi vào </span><span style="font-size: 16px;">tay Thục Phán, năm 258 trước Công Nguyên Thục Phán lên </span><span style="font-size: 16px;">ngôi xưng là An Dương Vương, bỏ quốc hiệu Văn Lang đổi </span><span style="font-size: 16px;">tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Đông Kinh, xây thành Cổ </span><span style="font-size: 16px;">Loa. Thục Phán mất năm 179 trước Công nguyên, làm vua </span><span style="font-size: 16px;">được 30 năm.</span><span style="font-size: 16px;">Thục Phán An Dương Vương là người giòng họ Lê , con </span><span style="font-size: 16px;">cháu giòng Lê đại tộc bắt nguồn từ đây, trải qua 2.230 năm </span><span style="font-size: 16px;">hình thành và phát triển đất nước, từ năm 258 BC đến nay </span><span style="font-size: 16px;">dòng họ Lê đã cống hiến không biết bao nhiêu xương máu </span><span style="font-size: 16px;">cho Tổ quốc, nổi bật là hai Triều đại Tiền Lê và Hậu Lê. Đó </span><span style="font-size: 16px;">là niềm tự hào cho tất cả những ai được mang giòng máu họ </span><span style="font-size: 16px;">Lê, Để nhớ mãi: Cội nguồn của chúng ta Thục Phán An </span><span style="font-size: 16px;">Dương Vương là ông Tổ của giòng Lê đại tộc (trích). </span><span style="font-size: 16px;">Qua khảo cứu và nhiều lần về làng Vân Nội, xã Phú Lương,</span><span style="font-size: 16px;">huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, tôi được biết Bách </span><span style="font-size: 16px;">Việt tộc phả và Cổ lôi ngọc phả truyền thư (hiện còn bản </span><span style="font-size: 16px;">gốc Hán Nôm) là nguồn phả của Họ Nguyễn Vân nguyên </span><span style="font-size: 16px;">trưởng làng Vân Nội, xã Phú Lương, huyện Thanh Oai,</span><span style="font-size: 16px;">thành phố Hà Nội được Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính </span><span style="font-size: 16px;">(Nguyễn Bính là cha đẻ của Trạng Nguyên Nguyễn Quốc </span><span style="font-size: 16px;">Trinh 阮國楨, 1624-1674), La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp </span><span style="font-size: 16px;">và sau này là các Hương Quận công của dòng họ này phụng </span><span style="font-size: 16px;">soạn, chỉnh tu qua nhiều đời cho đến ngày nay. Trong Bách </span><span style="font-size: 16px;">Việt tộc phả và Cổ lôi ngọc phả truyền thư có ghi An Dương </span><span style="font-size: 16px;">Vương là người họ Lê, tên Lê Phán. Chính vì vậy, tác giả </span><span style="font-size: 16px;">Hà Hùng Tiến đã viết trong sách Lễ hội và Danh nhân Lịch </span><span style="font-size: 16px;">sử Việt Nam An Dương Vương là ông Tổ họ Lê. Trong Sự </span><span style="font-size: 16px;">tích văn hóa lịch sử Việt Nam – Thời đại trước Công </span><span style="font-size: 16px;">nguyên, của tác giả Vũ Tuấn Doanh (Nhà xuất bản Văn hóa </span><span style="font-size: 16px;">thông tin) cũng đề cập An Dương Vương là người họ Lê,</span><span style="font-size: 16px;">tên Lê Thục Phán. Các bản phả gốc này hiện nay vẫn còn </span><span style="font-size: 16px;">được lưu giữ tại nhà thờ họ Nguyễn Vân – Vân Nội do ông</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Nguyễn Văn Liên, Trưởng tộc phụ trách và xem như bảo </span><span style="font-size: 16px;">vật của dòng họ mình.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">4. Người họ Lê có tên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm </span><span style="font-size: 16px;">40 – 43):</span><span style="font-size: 16px;">Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc </span><span style="font-size: 16px;">thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng </span><span style="font-size: 16px;">Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi </span><span style="font-size: 16px;">được lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ </span><span style="font-size: 16px;">(tương đương một phần Quảng Tây, Trung Quốc và Bắc </span><span style="font-size: 16px;">Bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay), mang lại độc lập </span><span style="font-size: 16px;">trong 3 năm cho người Việt tại đây. </span><span style="font-size: 16px;">Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng quy tụ nhiều giòng họ tham </span><span style="font-size: 16px;">gia như họ Lã, họ Đặng, họ Nguyễn, họ Phùng, họ </span><span style="font-size: 16px;">Đào…được ghi trong các thần tích, ngọc phả. Trong đó Họ </span><span style="font-size: 16px;">Lê có các tướng lĩnh như Lê Hoàn, Lê Hiệp, Lê Chân. </span><span style="font-size: 16px;">Tương truyền, Lê Chân quê ở làng An Biên (tên cổ là làng </span><span style="font-size: 16px;">Vẻn), Đông Triều, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay </span><span style="font-size: 16px;">thuộc thôn An Biên, xã Thuỷ An, thị xã Đông Triều, tỉnh </span><span style="font-size: 16px;">Quảng Ninh). Theo thần tích đền Nghè, cha Lê Chân là Lê </span><span style="font-size: 16px;">Đạo và mẹ bà là Trần Thị Châu. Ông Lê Đạo làm nghề thầy </span><span style="font-size: 16px;">thuốc, sống rất nhân từ, quảng đại và sẵn lòng bao dung cứu </span><span style="font-size: 16px;">giúp kẻ nghèo khó, sa cơ lỡ bước. Những ân nghĩa của ông </span><span style="font-size: 16px;">ban ra làm dân chúng xa gần mến phục. Bà vợ ông là người </span><span style="font-size: 16px;">cũng nổi tiếng là người thuỳ mị, đảm đang và nhân đức.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px;">Theo truyền thuyết dân gian, trong các lễ hội, ngày 8 tháng </span><span style="font-size: 16px;">2 âm lịch là ngày sinh và 25 tháng 12 âm lịch là ngày mất </span><span style="font-size: 16px;">của Lê Chân. Các vua đời sau cũng có chiếu phong bà là </span><span style="font-size: 16px;">Thượng đẳng Phúc thần công chúa. </span><span style="font-size: 16px;">Để nhớ công ơn khai khẩn của Bà, Hải Phòng đặt tên một </span><span style="font-size: 16px;">quận mang tên Bà và dựng tượng Bà tại gần trung tâm thành </span><span style="font-size: 16px;">phố; đồng thời, tên của bà được đặt tên cho giải thưởng &#8220;Nữ</span><br />
<span style="font-size: 16px;">tướng Lê Chân&#8221; để trao cho những phụ nữ có thành tích xuất </span><span style="font-size: 16px;">sắc của đất Cảng.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">5. Họ Lê là họ thuần Việt:</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Họ Lê &#8211; Trung Quốc gọi là Cửu Lê, vốn gốc từ họ Cửu Di </span><span style="font-size: 16px;">nên người Trung Quốc nguyên gốc họ Lê không có như họ </span><span style="font-size: 16px;">Lê Việt Nam.</span><br />
<span style="font-size: 16px;">Căn cứ An Nam chí lược của Lê Tắc (biên soạn nửa đầu thế </span><span style="font-size: 16px;">kỷ 14): Trong danh sách các viên quan Thứ Sử, TháiThú ở </span><span style="font-size: 16px;">các Quận Giao-Châu, Cửu-Chân và Nhật-Nam, phụ-biên </span><span style="font-size: 16px;">các quan Thứ-Sử, Thái-Thú Trung Quốc từ đời Tam Quốc </span><span style="font-size: 16px;">đến đời Nhà Trần được phái sang cai trị ở nước ta thì không </span><span style="font-size: 16px;">tìm thấy, ông quan nào mang họ Lê (Trung Quốc). </span><span style="font-size: 16px;">Theo Nhà Biên khảo Vũ Hiệp: Giòng họ Lê có dân số đông </span><span style="font-size: 16px;">thứ nhì trong tổng dân số Việt Nam. Họ Lê chỉ đặc biệt có </span><span style="font-size: 16px;">ở người Việt nước ta mà thôi. Trong lịch sử Trung Quốc rất </span><span style="font-size: 16px;">hiếm có người họ Lê, hơn một ngàn năm Bắc Thuộc không </span><span style="font-size: 16px;">có một viên quan cai trị nào mang họ Lê. Bởi vậy nhiều nhà </span><span style="font-size: 16px;">nghiên cứu cho rằng: Họ Lê là một trong những họ đặc </span><span style="font-size: 16px;">trưng của dân tộc Lạc Việt đã định cư ở đất Thanh Hoá -Ninh Bình từ rất lâu đời đến nay.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px;">Ngày nay họ Lê có thể chiếm đến 15% dân số nước ta, là </span><span style="font-size: 16px;">một dòng họ đã có đến hai lần lập ra triều đại Vương quyền: </span><span style="font-size: 16px;">Tiền Lê và Hậu Lê, tổng cộng 399 năm. Trong danh sách </span><span style="font-size: 16px;">khoa bảng triều Nguyễn trong 115 năm có đến 650 vị </span><span style="font-size: 16px;">Hương Cống, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Phó Bảng là con cháu họ </span><span style="font-size: 16px;">Lê trong 5.230 vị đăng khoa. </span><span style="font-size: 16px;">Nghiên cứu về giòng họ Lê vô cùng thú vị, vì có nhiều danh </span><span style="font-size: 16px;">nhân lịch sử, văn hóa nước ta mang giòng họ này. Đặc biệt </span><span style="font-size: 16px;">những vị Thủy Tổ của nhiều chi phái họ Lê ở nước ta đều </span><span style="font-size: 16px;">xuất xứ trên đất Đại Việt, không hề có ai gốc tích từ Trung </span><span style="font-size: 16px;">Quốc sang mang giòng họ Lê (Trích tham luận của Nhà </span><span style="font-size: 16px;">Biên khảo Vũ Hiệp, bản tin No: 01 ngày 26 Jun 1999 Trung </span><span style="font-size: 16px;">tâm UNESCO Phát triển Nhân Văn TP. Hồ Chí Minh).</span></p>
<p><span style="font-size: 16px;"><em>                                                                                                                                     Ngày cuối năm Tây lịch 31/12/2020</em></span><br />
<span style="font-size: 16px;"><strong>                                                                                                                                               TS.BS Lê Văn Nho</strong></span></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho-le-viet-nam-qua-cac-nguon-pha-ngoc-pha-cua-mot-so-giong-ho-le-va-cac-nguon-tu-lieu-khac/">Nguồn gốc Họ Lê Việt Nam qua các nguồn phả, ngọc phả của một số dòng họ Lê và các nguồn tư liệu khác</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/nguon-goc-ho-le-viet-nam-qua-cac-nguon-pha-ngoc-pha-cua-mot-so-giong-ho-le-va-cac-nguon-tu-lieu-khac/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Dòng họ Lê lưu giữ 23 cuốn sắc phong cổ quý hiếm</title>
		<link>https://holevietnam.vn/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[senweb]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Oct 2020 04:00:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://holevietnam.cnttvietnam.com.vn/?p=729</guid>

					<description><![CDATA[<p>Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học tìm về dòng họ Lê, nơi lưu giữ 23 cuốn sắc phong có niên đại hàng trăm năm. Tuy nhiên, cho đến nay những gì thể hiện trong những cuốn sắc phong ấy vẫn là một bí ẩn. Những cuốn sắc phong được con cháu dòng họ...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem/">Dòng họ Lê lưu giữ 23 cuốn sắc phong cổ quý hiếm</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học tìm về dòng họ Lê, nơi lưu giữ 23 cuốn sắc phong có niên đại hàng trăm năm. Tuy nhiên, cho đến nay những gì thể hiện trong những cuốn sắc phong ấy vẫn là một bí ẩn.</p>
<p style="text-align: justify;">Những cuốn sắc phong được con cháu dòng họ Lê (xã Tân Phúc, huyện Nông Cống, Thanh Hóa) xem như báu vật và việc lưu giữ như một niềm tự hào bao đời của họ. Theo cụ Lê Văn Hợi, hậu duệ 18 đời của Lê Hiểm, nhiều người về tìm hiểu đã đánh giá những cuốn sắc phong này có niên đại hàng trăm năm, được vua triều Lê và triều Nguyễn phong tặng cho Lê Hiểm, Lê Hiêu và Lê Phụ, những người có công trạng lớn cho đất nước.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-731 size-full" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem.jpg" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem.jpg 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-300x200.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-768x512.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Được cho là trải qua niên đại hàng trăm năm nhưng những cuốn sắc phong vẫn mới và nguyên vẹn</em></p>
<p style="text-align: justify;">Hiện 23 cuốn sắc phong này đang được gia đình ông Lê Văn Phương lưu giữ. Ông Phương là trưởng tộc và là hậu duệ 21 đời của Lê Hiểm, 1 trong 18 vị tướng từng cắt máu ăn thề ở Hội thề Lũng Nhai, góp công lớn giúp người Anh hùng dân tộc Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược.</p>
<p style="text-align: justify;">Chia sẻ về điều này, ông Phương cho biết, những cuốn sắc phong này chính là “bằng khen”, “tấm huân chương”, là tài sản vô giá và là niềm tự hào của dòng tộc ông. Có lẽ bởi thế mà trải qua hàng trăm năm, những cuốn sắc phong vẫn giữ được cho tới tận bây giờ. Không những được lưu giữ mà chúng còn được bảo quản cẩn thận nên hầu hết vẫn còn nguyên vẹn, không bị nhàu nát hay nhòe chữ.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-733 size-full" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-2.png" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-2.png 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-2-300x200.png 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-2-768x512.png 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-732 aligncenter" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-1.jpg" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-1.jpg 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-1-300x200.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-1-768x512.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Những cuốn sắc phong này được viết bằng chữ Hán Nôm</em></p>
<p style="text-align: justify;">23 cuốn sắc phong này được viết bằng chữ Hán- Nôm. Cũng theo ông Phương thì gia đình ông đã từng đón tiếp rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học (trong đó có cả nhà nghiên cứu Nhật Bản) về xem, ghi chép để làm rõ nội dung và niên đại trong những cuốn sắc phong này. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có một bản dịch và thông tin chính xác nào về những cuốn sắc phong mà gia đình ông đang lưu giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Phương và những người trong dòng tộc rất muốn được các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu, nhà sử học về tìm hiểu, đánh giá để cho dòng họ được biết thông tin chính thức trong sắc phong viết gì, phong tặng cho những ai và được triều vua nào phong tặng.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-734 aligncenter" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-3.png" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-3.png 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-3-300x200.png 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem-3-768x512.png 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>23 cuốn sắc phong được truyền từ đời này sang đời khác và được bảo quản cẩn thận</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài 23 cuốn sắc phong cổ, tại nhà thờ họ Lê Hiểm &#8211; Lê Hiêu (ở thôn 1, xã Tân Phúc, huyện Nông Cống) đang còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị hàng trăm năm như: một chiếc Kiệu (thời Lê Phụ) có niên đại từ thời khởi nghĩa Lam Sơn, 2 bát hương thời nhà Mạc, 1 bát hương thời nhà Nguyễn, 3 cuốn sổ ghi gia phả và rất nhiều đồ vật khác có niên đại hơn 500 năm vẫn được bảo quản nguyên vẹn.</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem/">Dòng họ Lê lưu giữ 23 cuốn sắc phong cổ quý hiếm</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/dong-ho-le-luu-giu-23-cuon-sac-phong-co-quy-hiem/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
