<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ Tìm về cội nguồn - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</title>
	<atom:link href="https://holevietnam.vn/chuyen-muc/tim-ve-coi-nguon/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://holevietnam.vn/chuyen-muc/tim-ve-coi-nguon/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Tue, 23 Dec 2025 10:31:11 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.5</generator>

<image>
	<url>https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2020/10/cropped-logo2-32x32.png</url>
	<title>Lưu trữ Tìm về cội nguồn - TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</title>
	<link>https://holevietnam.vn/chuyen-muc/tim-ve-coi-nguon/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Dòng họ Lê Xuân Hà Nữu – Cội nguồn và truyền thống</title>
		<link>https://holevietnam.vn/dong-ho-le-xuan-ha-nuu-coi-nguon-va-truyen-thong/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/dong-ho-le-xuan-ha-nuu-coi-nguon-va-truyen-thong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 23 Dec 2025 10:31:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=5411</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Dòng họ Lê Xuân ở Làng Hà Nữu, xã Quảng Chính, tỉnh Thanh Hóa, là dòng họ giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, đã tồn tại, sinh cơ lập nghiệp và phát triển liên tục qua hàng trăm năm. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, dòng họ không chỉ...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/dong-ho-le-xuan-ha-nuu-coi-nguon-va-truyen-thong/">Dòng họ Lê Xuân Hà Nữu – Cội nguồn và truyền thống</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><em>HLVN </em></strong><strong>&#8211; </strong><strong>Dòng họ Lê Xuân ở Làng Hà Nữu, xã Quảng Chính, tỉnh Thanh Hóa, là dòng họ giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, đã tồn tại, sinh cơ lập nghiệp và phát triển liên tục qua hàng trăm năm. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, dòng họ không chỉ bền bỉ gìn giữ cội nguồn mà còn hun đúc nên một truyền thống gia phong mẫu mực, giàu tinh thần yêu nước, cách mạng, góp phần quan trọng vào sự phát triển của quê hương, đất nước.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Theo gia phả và chúc văn cúng Tổ được lưu truyền trong dòng họ, thủy tổ họ Lê Xuân nguyên quán tại thôn Long Sùng Sách, huyện Thủy Nguyên, phủ Thiệu Hóa (xưa). Trong thời kỳ loạn lạc, các ngài đã rời quê tổ, tìm đến vùng đất làng Tó, xã Quảng Lĩnh để sinh sống, làm ăn. Trải qua nhiều thế hệ, con cháu tiếp tục di chuyển về làng Hà Nữu, tổng Thái (xã Quảng Khê, nay là xã Quảng Chính, Thanh Hóa), an cư lạc nghiệp, khai hoang mở đất, xây dựng cơ nghiệp bền vững cho con cháu đời sau. Những bậc thủy tổ được hậu duệ kính thờ gồm ông Lê Quý Công húy tự Thủ Chính và ông Lê Quý Công húy tự Thủ Đạo. Khi quy tiên, các ngài được an táng tại bản địa cồn Mã Vận, thôn Ngưu Phương, làng Hà Nữu &#8211; mảnh đất linh thiêng gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-5409" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/02-HL-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/02-HL-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/02-HL-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/02-HL-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/02-HL.jpg 1280w" sizes="(max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: center;"><em>Lễ tế tổ của dòng họ Lê Xuân làng Hà Nữu, xã Quảng Chính, tỉnh Thanh Hóa</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tiếp nối các bậc thủy tổ, những vị khởi tổ như Lê Quý Công húy tự Bá Chu, Bá Đường, Bá Tố đã chính thức chia tách, thành lập họ Lê Xuân, đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài của dòng họ trên đất Hà Nữu. Các vị đã thống nhất chuyển ngày tế tổ từ 16 tháng Giêng sang ngày Đông chí &#8211; “nhất dương sinh” &#8211; thể hiện tư duy sâu sắc về triết lý âm dương, trời đất và sự sinh sôi bền vững của con cháu. Trải qua nhiều đời, dù có những giai đoạn thất lạc gia phả, mồ mả tổ tiên chưa xác định rõ vị trí, nhưng đạo lý “chim có tổ, người có tông” vẫn luôn được các thế hệ họ Lê Xuân khắc ghi. Con cháu trong họ bằng tất cả lòng thành kính vẫn phụng thờ, hương khói đầy đủ cho các bậc tiền nhân, tổ mẫu, tổ cô, xem đó là sợi dây thiêng liêng kết nối quá khứ &#8211; hiện tại &#8211; tương lai.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong ký ức và tâm thức của hậu duệ, bà Tổ cô Mai Hoa Nương hiệu Từ Quế là biểu tượng linh thiêng của đức hạnh, lòng từ bi và sự che chở. Dù rời cõi trần khi tuổi còn thanh xuân, nhưng hình ảnh của bà vẫn sống mãi trong niềm tin tâm linh của con cháu, như một điểm tựa tinh thần bảo hộ cho dòng họ qua bao biến cố. Không chỉ có truyền thống gia phong, dòng họ Lê Xuân làng Hà Nữu còn là một dòng họ giàu truyền thống cách mạng. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhiều người con ưu tú của dòng họ đã lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của dân tộc. Hương linh các anh hùng liệt sĩ trong dòng họ được phụng thờ trang nghiêm tại từ đường, trở thành biểu tượng sáng ngời cho tinh thần yêu nước, ý chí kiên trung của con cháu họ Lê Xuân. Truyền thống ấy không chỉ thể hiện trong chiến tranh mà còn tiếp nối mạnh mẽ trong thời bình. Các thế hệ con cháu họ Lê Xuân luôn coi trọng việc học hành, rèn luyện đạo đức, tu nhân tích đức, làm ăn lương thiện, sống nghĩa tình với xóm làng. Nhiều người đã trưởng thành, thành đạt trên các lĩnh vực, đóng góp trí tuệ, công sức vào sự phát triển của quê hương Quảng Chính và tỉnh Thanh Hóa.</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-5407" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/05-HL-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/05-HL-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/05-HL-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/05-HL-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2025/12/05-HL.jpg 1280w" sizes="(max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Lễ tế tổ của dòng họ Lê Xuân làng Hà Nữu, xã Quảng Chính, tỉnh Thanh Hóa</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nghi lễ cúng Tổ vào ngày Đông chí hằng năm không chỉ là một nghi thức tín ngưỡng mà còn là dịp để con cháu trong họ cùng nhau sum họp, ôn lại cội nguồn, tri ân công đức tổ tiên, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Những lời chúc văn trang nghiêm, giàu giá trị lịch sử và nhân văn chính là bản “gia huấn” sống động, nhắc nhở mỗi người con họ Lê Xuân phải biết giữ tròn đạo hiếu, đoàn kết nội tộc, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Trên hành trình hàng trăm năm ấy, dòng họ Lê Xuân đã chứng minh sức sống bền bỉ của một dòng họ biết dựa vào cội rễ truyền thống để vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Từ những ngày đầu khai hoang lập ấp trên vùng đất còn hoang sơ, đến hôm nay khi quê hương đổi mới từng ngày, tinh thần cần cù, nhân nghĩa, hiếu học và yêu nước vẫn luôn là giá trị cốt lõi làm nên bản sắc của dòng họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phát huy truyền thống tốt đẹp ấy, con cháu họ Lê Xuân hôm nay nguyện tiếp tục chung tay xây dựng dòng họ ngày càng phát triển, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa làng Hà Nữu, xây dựng quê hương Quảng Chính giàu đẹp, văn minh. Đó cũng chính là cách thiết thực nhất để tri ân tiên tổ, để truyền thống dòng họ Lê Xuân mãi mãi trường tồn cùng thời gian./.</p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>Lê Xuân Bính</em></strong></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/dong-ho-le-xuan-ha-nuu-coi-nguon-va-truyen-thong/">Dòng họ Lê Xuân Hà Nữu – Cội nguồn và truyền thống</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/dong-ho-le-xuan-ha-nuu-coi-nguon-va-truyen-thong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tổng duyệt chương trình Lễ hội Lam Kinh năm 2022</title>
		<link>https://holevietnam.vn/tong-duyet-chuong-trinh-le-hoi-lam-kinh-nam-2022/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/tong-duyet-chuong-trinh-le-hoi-lam-kinh-nam-2022/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 17 Sep 2022 02:52:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=3119</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Sáng 16-9 (tức ngày 21-8 năm Nhâm Dần), Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm 604 năm khởi nghĩa Lam Sơn, 594 năm Vua Lê Thái Tổ đăng quang, 589 năm ngày mất Anh hùng dân tộc Lê Lợi, 10 năm di tích lịch sử Lam Kinh được công nhận di tích Quốc gia...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tong-duyet-chuong-trinh-le-hoi-lam-kinh-nam-2022/">Tổng duyệt chương trình Lễ hội Lam Kinh năm 2022</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>HLVN </em>&#8211; Sáng 16-9 (tức ngày 21-8 năm Nhâm Dần), Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm 604 năm khởi nghĩa Lam Sơn, 594 năm Vua Lê Thái Tổ đăng quang, 589 năm ngày mất Anh hùng dân tộc Lê Lợi, 10 năm di tích lịch sử Lam Kinh được công nhận di tích Quốc gia đặc biệt và lễ hội Lam Kinh 2022 đã tổ chức tổng duyệt chương trình lễ kỷ niệm.</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3114" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5122949t52990l0.jpg" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5122949t52990l0.jpg 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5122949t52990l0-300x200.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5122949t52990l0-768x512.jpg 768w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Các đại biểu tham dự lễ tổng duyệt.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Dự và chỉ đạo tổng duyệt có đồng chí: Đầu Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; thành viên Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm; đại diện các sở, ngành, đơn vị liên quan.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3115" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123050t77146l0.jpg" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123050t77146l0.jpg 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123050t77146l0-300x200.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123050t77146l0-768x512.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Lễ kỷ niệm bắt đầu với nghi thức rước kiệu truyền thống. Tiếp đó là lễ dâng hương kính cáo Đức Thái Tổ Cao Hoàng Đế, đọc chúc văn tưởng nhớ công lao của Vua Lê Thái Tổ và các tướng sĩ nghĩa quân Lam Sơn.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sau phần lễ là chương trình nghệ thuật với chủ đề “Hào khí Lam Sơn &#8211; tỏa sáng trường tồn”, gồm 3 chương. Chương I: Hào khí Lam Sơn &#8211; Anh hùng tụ nghĩa. Chương II: Bình Định Vương đăng quang Hoàng Đế. Chương III: Tiếp bước cha ông, Thanh Hóa trên đường đổi mới và phát triển.</p>
<p style="text-align: justify;">Chương trình nghệ thuật tập trung tái hiện một giai đoạn lịch sử hào hùng và những công lao, sự nghiệp to lớn của người anh hùng áo vải Lê Lợi cùng các tướng sĩ, Nhân dân đã đánh đuổi giặc Minh xâm lược, giành độc lập tự chủ và xây dựng đất nước phát triển hưng thịnh. Ngoài ra, các nghệ nhân, diễn viên, nghệ sỹ sẽ trình diễn trò Xuân Phả, múa đèn Đông Anh, diễn tấu cồng chiêng huyện Ngọc Lặc, múa bát dân tộc Dao nhằm thể hiện sự phong phú, đa sắc màu trong kho tàng di sản văn hóa xứ Thanh, tạo nên một chương trình nghệ thuật mang âm hưởng hào hùng, hoành tránh, đa màu sắc.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3116" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123130t87931l0.jpg" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123130t87931l0.jpg 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123130t87931l0-300x200.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123130t87931l0-768x512.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Ban Tổ chức họp rút kinh nghiệm.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sau buổi tổng duyệt, Ban Tổ chức đã họp rút kinh nghiệm với các đơn vị liên quan và ê kíp thực hiện chương trình, qua đó củng cố thêm tính kết nối giữa các phần nội dung, hoàn chỉnh kịch bản chương trình, maket sân khấu, trang trí, khánh tiết, âm thanh…</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3117" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123244t59149l0.jpg" alt="" width="800" height="533" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123244t59149l0.jpg 800w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123244t59149l0-300x200.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/167d5123244t59149l0-768x512.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Đồng chí Phạm Nguyên Hồng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát biểu tại hội nghị rút kinh nghiệm.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Phát biểu kết luận, đồng chí Đầu Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao sự nỗ lực của các đơn vị, ngành chức năng và ê kíp chương trình. Đồng thời, cho ý kiến cụ thể vào một số nội dung trong chương trình, đặc biệt là chương trình nghệ thuật; maket sân khấu, trang trí, khánh tiết, âm thanh, công tác đảm bảo an ninh &#8211; trật tự, an toàn điện, phòng chống cháy nổ&#8230;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3118" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/197d5153734t8958l0-1.jpg" alt="" width="692" height="509" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/197d5153734t8958l0-1.jpg 692w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/197d5153734t8958l0-1-300x221.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 692px) 100vw, 692px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Đồng chí Đầu Thanh Tùng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại buổi họp rút kinh nghiệm.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị ê kíp thực hiện chương trình tiếp thu tối đa các ý kiến đóng góp của thành viên Ban Tổ chức, tiếp tục hoàn thiện và chỉnh sửa nội dung chương trình, khánh tiết… để phù hợp với văn hóa, lịch sử và hấp dẫn du khách. Đồng thời, yêu cầu huyện Thọ Xuân cùng các đơn vị liên quan tập trung chỉnh trang hệ thống băng rôn, khẩu hiệu, điện, đèn giao thông; huy động tối đa nguồn lực bảo đảm an ninh &#8211; trật tự, chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết phục vụ cho lễ kỷ niệm diễn ra trang trọng, an toàn, thành công, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người dân và du khách.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ kỷ niệm sẽ được tổ chức vào sáng mai (17-9) tại sân Rồng chính điện Lam Kinh, Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước đó, đồng chí Đầu Thanh Tùng cùng Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm đã tham dự Lễ dâng hương tại đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai (Đền Tép) tại xã Kiên Thọ (Ngọc Lặc).</p>
<p style="text-align: justify;">Tại đây, sau nghi lễ rước kiệu về đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai, đồng chí Đầu Thanh Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đánh trống khai hội. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng các đại biểu và Nhân dân, du khách đã dâng hương tưởng nhớ công ơn của Trung Túc Vương Lê Lai.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Thùy Linh</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tong-duyet-chuong-trinh-le-hoi-lam-kinh-nam-2022/">Tổng duyệt chương trình Lễ hội Lam Kinh năm 2022</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/tong-duyet-chuong-trinh-le-hoi-lam-kinh-nam-2022/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lễ hội Lam Kinh &#8211; di sản phi vật thể đặc sắc, giàu giá trị</title>
		<link>https://holevietnam.vn/le-hoi-lam-kinh-di-san-phi-vat-the-dac-sac-giau-gia-tri/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/le-hoi-lam-kinh-di-san-phi-vat-the-dac-sac-giau-gia-tri/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 17 Sep 2022 02:44:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=3109</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Có lẽ, với nhiều người dân đất Việt, thì tháng Tám âm lịch hằng năm gắn với lời nhắc nhớ “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” đã trở thành tháng về nguồn. Đặc biệt, về Lam Kinh để hòa mình vào không gian thiêng của lễ hội Lam Kinh &#8211; một di...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/le-hoi-lam-kinh-di-san-phi-vat-the-dac-sac-giau-gia-tri/">Lễ hội Lam Kinh &#8211; di sản phi vật thể đặc sắc, giàu giá trị</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><em>HLVN</em></strong><strong> &#8211; Có lẽ, với nhiều người dân đất Việt, thì tháng Tám âm lịch hằng năm gắn với lời nhắc nhớ “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” đã trở thành tháng về nguồn. Đặc biệt, về Lam Kinh để hòa mình vào không gian thiêng của lễ hội Lam Kinh &#8211; một di sản phi vật thể đặc sắc, giàu giá trị.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3110" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/177d5202303t22244l0.jpg" alt="" width="700" height="467" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/177d5202303t22244l0.jpg 700w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/177d5202303t22244l0-300x200.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 700px) 100vw, 700px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Nghi thức rước kiệu trong lễ hội Lam Kinh.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lễ hội Lam Kinh gắn với Khu Di tích lịch sử Lam Kinh và vùng đất Lam Sơn. Nơi đây là “vùng đất căn bản” của nhà Lê, nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh cách đây hơn 6 thế kỷ. Sau khi lên ngôi, Vua Lê Thái tổ đã chọn đất tổ Lam Sơn là nơi thờ cúng tổ tiên, nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vua và hoàng hậu. Kể từ đó Lam Kinh &#8211; Tây Kinh trở thành nơi mỗi người hướng về cội nguồn với lòng tôn kính, ngưỡng vọng và tri ân các bậc tiền nhân, tiên tổ. Đây cũng chính là cơ sở cho sự ra đời và sức sống của lễ hội Lam Kinh suốt nhiều thế kỷ qua.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi các Vua Lê về bái yết Sơn lăng, đã cho tổ chức lễ tế tổ theo các nghi thức cung đình. Về phần hội, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: Hoàng đế Lê Thái tông “tưởng nhớ công lao của tiền bối, sáng tác điệu vũ bình Ngô”. Việc tổ chức diễn xướng điệu vũ bình Ngô được sách trên ghi lại khá cụ thể: “Năm Thái Hòa thứ 7 (1449) mùa Xuân tháng Giêng vua ban yến cho quan, múa nhạc bình Ngô. Công hầu có người xúc động phát khóc.”; “Bảy năm sau (1456), vua Nhân tông trong dịp về Lam Kinh bái yết Sơn lăng, đã cho đánh trống đồng, diễn khúc “Bình Ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều”.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời kỳ vàng son của nhà Lê, các nghi thức tế lễ mang tính cung đình trang nghiêm, thành kính gắn với lễ hội Lam Kinh đã in dấu ấn sâu đậm trong truyền thống văn hóa dân tộc. Theo dòng chảy của lịch sử, văn hóa, dần dần lễ hội Lam Kinh không còn bó hẹp trong khuôn phép cung đình, mà được hòa vào trong cộng đồng, ăn sâu bén rễ vào đời sống của người dân, được người dân vùng đất Lam Sơn thực hành, gìn giữ. Bởi vậy mà lễ hội Lam Kinh ngày nay vừa mang tính khuôn phép cung đình, vừa mang đậm yếu tố dân gian truyền thống. Có lẽ điều này đã tạo nên nét đặc trưng, khác biệt và hấp dẫn cho lễ hội Lam Kinh. Một lễ hội mà ở đó hội tụ những nét văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của dân tộc.</p>
<p style="text-align: justify;">Về với Khu Di tích Lam Kinh và lễ hội Lam Kinh những ngày mùa thu này, người dân được hòa mình vào không gian linh liêng. Phần đại lễ trang trọng, thành kính tại sân Rồng. Trong không khí trang nghiêm và âm hưởng hào hùng của trống, chiêng, đoàn rước kiệu Vua Lê Thái tổ và kiệu Lê Lai cùng quân kiêu, quân cờ xuất phát từ đền thờ Vua Lê Thái tổ được rước về sân Rồng theo đúng nghi thức cổ truyền. Đội rước kiệu vận trang phục áo đỏ, quần vàng, thắt lưng đỏ, khăn vàng ngay ngắn khênh kiệu Vua Lê Thái tổ và kiệu Trung Túc vương Lê Lai. Đội tế gồm các thanh niên trai tráng, khỏe mạnh. Khi nghi lễ chính thức bắt đầu, chủ tế đọc chúc văn, nêu công lao to lớn của vị Anh hùng dân tộc Lê Lợi và vương triều hậu Lê trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Đây được xem là nét đẹp truyền thống về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với đất nước được lưu giữ và thể hiện trong lễ hội Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Về với lễ hội Lam Kinh không chỉ để chứng kiến phần đại lễ quy mô hoành tráng; mà còn để mỗi người dân được sống dậy tinh thần yêu nước sục sôi của hào khí Lam Sơn; hòa mình trong không khí hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua các màn trình diễn được đầu tư công phu, với sự tham gia của hàng trăm nghệ sĩ. Phần sân khấu hóa đã tái hiện lại những dấu ấn với “hội thề Lũng Nhai”, “Lê Lai cứu chúa”, “Giải phóng thành Đông Quan”, “Lê Thái tổ đăng quang”. Mỗi một phân cảnh, một tiếng trống chiêng, cờ quạt như đang rút ngắn khoảng cách hiện tại &#8211; quá khư; đưa người dân về những trận chiến, sự kiện đã làm nên danh tiếng lẫy lừng của khởi nghĩa Lam Sơn. Từ đó, người dân có thể hình dung cụ thể những cống hiến, công đức của người anh hùng áo vải cùng các tướng sĩ và Nhân dân Thanh Hóa nói riêng, Nhân dân cả nước nói chung trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược diễn ra cách đây hơn 600 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ hội Lam Kinh còn là nơi trình diễn các trò diễn dân gian truyền thống xứ Thanh như: Xuân Phả, trò chiềng, múa Rồng, Bình Ngô, Sanh Ngô, trống hội&#8230; mà tiêu biểu hơn cả là trò Xuân Phả &#8211; di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trò diễn đã tăng thêm tính đặc sắc cho lễ hội Lam Kinh với các điệu múa, hát, âm nhạc hay những chiếc mặt nạ kỳ dị cùng với những biểu tượng linh vật tượng trưng cho phẩm cấp quan lại phong kiến. Sự kết hợp của các trò diễn cho thấy sức sống mãnh liệt, dẻo dai của các trò diễn trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Đồng thời, khẳng định Thanh Hóa là một vùng đất giàu truyền thống, một kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, sống động, giàu màu sắc, biểu cảm và cũng đầy tính nghệ thuật của người dân các dân tộc Thái, Mường, Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Lễ hội Lam Kinh đã thực sự trở thành gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp cho lịch sử luôn sống mãi trong thế hệ mai sau. Đặc biệt, với một không gian văn hóa đặc sắc, cùng những ý nghĩa và giá trị vô giá, lễ hội Lam Kinh đã khẳng định vai trò quan trọng trong dòng chảy lịch sử, văn hóa. Đồng thời, thể hiện sức mạnh tự thân, sức sống quật cường trước bao biến động lịch sử. Có được một lễ hội Lam Kinh quy mô, hoành tráng, một di sản phi vật thể đặc sắc, giàu giá trị như ngày hôm nay không thể phủ nhận những nỗ lực, đóng góp của các cấp, ngành, địa phương và Nhân dân trong việc bảo tồn, lưu giữ, phục dựng và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đặc trưng của lễ hội Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Gìn giữ lễ hội Lam Kinh chính là sự tôn vinh công lao của các anh hùng hào kiệt; là gìn giữ văn hóa truyền thống. Đồng thời, giáo dục mọi thế hệ luôn biết trân trọng lịch sử, để xác định trách nhiệm của mình trong gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Theo Thùy Linh-</em><em> Baothanhhoa.vn</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/le-hoi-lam-kinh-di-san-phi-vat-the-dac-sac-giau-gia-tri/">Lễ hội Lam Kinh &#8211; di sản phi vật thể đặc sắc, giàu giá trị</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/le-hoi-lam-kinh-di-san-phi-vat-the-dac-sac-giau-gia-tri/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh &#8211; Điểm nhấn văn hóa hấp dẫn</title>
		<link>https://holevietnam.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet-lam-kinh-diem-nhan-van-hoa-hap-dan/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet-lam-kinh-diem-nhan-van-hoa-hap-dan/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 17 Sep 2022 02:35:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=3107</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận Di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh là Di tích Quốc gia đặc biệt. 10 năm qua, công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di tích đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet-lam-kinh-diem-nhan-van-hoa-hap-dan/">Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh &#8211; Điểm nhấn văn hóa hấp dẫn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><em>HLVN </em></strong><strong>&#8211; Ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận Di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh là Di tích Quốc gia đặc biệt.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>10 năm qua, công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di tích đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành &#8220;điểm nhấn&#8221; văn hóa, lịch sử, &#8220;điểm đến&#8221; hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Xứng tầm Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt</strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3106" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/lam-kinh-thanh-hoa-17092022.jpg" alt="" width="665" height="376" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/lam-kinh-thanh-hoa-17092022.jpg 665w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/lam-kinh-thanh-hoa-17092022-300x170.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 665px) 100vw, 665px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Nghi môn, Ngọ môn (cửa phía Nam) của điện Lam Kinh tại (xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lam Kinh là nơi an táng, thờ cúng, tri ân các vị Vua và Hoàng hậu triều Lê. Theo các nhà sử học, vương triều Lê có hai thái miếu ở Thăng Long (Hà Nội) và ở Lam Kinh (Thọ Xuân &#8211; Thanh Hóa), thái miếu ở Lam Kinh là thái miếu gốc. Vì thế hàng năm, các vua Lê trị vì tại Thăng Long đều hành hương về Lam Kinh để tế lễ và bái yết tổ tiên. Ðây còn là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, mang dấu ấn văn hóa cung đình cùng toàn bộ các bia ký, lăng mộ, minh chứng bước phát triển rực rỡ của nền kiến trúc nước nhà.<br />
Năm 1962, di tích lịch sử Lam Kinh được xếp hạng cấp quốc gia. Đến năm 1994, Chính phủ phê duyệt dự án trùng tu, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử Lam Kinh với các hạng mục như: các lăng mộ, nhà bia, chính điện, các tòa Thái miếu, Nghi môn, sân Rồng, thềm Rồng, cầu Bạch, đền thờ, giếng cổ, sông ngọc&#8230; với tổng giá trị dự án hơn 200 tỷ đồng. Từ đó đến nay, gần 30 hạng mục công trình trong khu di tích đã được bảo tồn, tôn tạo, phục hồi, tránh được sự hoang phế, từng bước khôi phục lại diện mạo Lam Kinh xưa. Đó là khu La Thành (hay Thành Ngoại); là hệ thủy của di tích Lam Kinh vừa là cảnh quan, vừa tạo phong thủy cho toàn bộ di tích, gồm: sông Ngọc, hồ Tây; Giếng cổ; Nghi môn, Ngọ môn (cửa phía Nam) của điện Lam Kinh nơi đón tiếp nghi thức trước khi vào điện chầu trước khi phục hồi còn toàn bộ nền móng, tảng cột cái thời Lê Trung Hưng; sân Rồng, sân Chầu; Chính điện Lam Kinh; 5/9 tòa Thái miếu; 6 khu lăng mộ ở Lam Kinh là nơi an táng 5 vị vua và một Hoàng Thái hậu. Đặc biệt nơi đây hiện đang lưu giữ 5 tấm bia cổ, là những tư liệu quý giá để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật điêu khắc. Cả 5 tấm bia đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận là Bảo vật quốc gia, bao gồm bia Vĩnh Lăng (vua Lê Thái Tổ), bia Chiêu Lăng (vua Lê Thánh Tông), bia Dụ Lăng (vua Lê Hiến Tông), bia Kính Lăng (vua Lê Túc Tông), bia Khôn Nguyên Chí  Đức (Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao).</p>
<p style="text-align: justify;">Khu Di tích Lam Kinh có nhiều công trình mang giá trị cao về kiến trúc, trong đó tiêu biểu là tòa Chính điện. Tòa Chính điện Lam Kinh được ví như “linh hồn” của Khu Di tích bởi sự bề thế, trang nghiêm và vai trò quan trọng của nó trong quần thể khu miếu điện, lăng tẩm Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính điện được làm lễ phạt mộc năm 2010 và chính thức hoàn thành vào ngày khai hội Lam Kinh năm 2017. Tòa điện này được dựng trên nền móng cũ có diện tích 1.780m2 với mức đầu tư hàng trăm tỷ đồng. Chính điện mang đậm lối phong cách kiến trúc thời Lê và là công trình điêu khắc gỗ tỉ mỉ, công phu. Cùng với ngoại thất là khối kiến trúc hình chữ Công (I), gồm 3 điện nối tiếp nhau là Quang Đức (tiền điện), Sùng Hiếu (trung điện) và Diên Khánh (hậu điện). Nội thất của Chính điện càng nổi bật ở sự tinh tế, nguy nga và tôn nghiêm. Sử dụng tới hơn 2.000m3 gỗ lim và hàng chục thợ lành nghề, hệ thống hoa văn kiến trúc cột, mái, bình phong, vật dụng bên trong Chính điện không chỉ cho thấy sự kỳ công, khéo léo của người thợ, mà còn là sự phản ánh đầy đủ và chân thực vẻ đẹp kiến trúc cung đình thời Lê.</p>
<p style="text-align: justify;">Không chỉ đẹp trong từng công trình được xây dựng, nét văn hóa của Khu Di tích Lam Kinh còn được thể hiện trong sự hài hòa với cảnh quan môi trường xung quanh. Với tổng diện tích 141 ha, trong không gian rừng núi, Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh với các điện miếu và lăng mộ được bố trí theo quan điểm Nho giáo, thuật phong thủy, có sự hài hòa giữa đồi núi, khe suối, cây xanh, tạo nên một môi trường đẹp, cân bằng giữa cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Vũ Đình Sỹ, Trưởng Ban Quản lý Khu Di tích cho biết, Lam Kinh được xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt thể hiện sự tri ân của các thế hệ hôm nay trước những cống hiến, hy sinh to lớn của các bậc tiền nhân trong sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng đất nước; đồng thời thể hiện sinh động các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc nói chung, Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh nói riêng. Suốt 10 năm qua, việc Lam Kinh được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt đã tạo động lực lớn để Ban Quản lý nỗ lực trong gìn giữ và phát huy giá trị di tích. Bởi Di tích Lam Kinh là niềm vinh dự, tự hào của Đảng bộ, Chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa và cả nước nói chung, đồng thời đặt ra trọng trách to lớn trong công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị Di tích lịch sử Quốc gia”.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hướng tới Ngày hội lớn</strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3105" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/lam-kinh-thanh-hoa-17092022a.jpg" alt="" width="665" height="376" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/lam-kinh-thanh-hoa-17092022a.jpg 665w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/lam-kinh-thanh-hoa-17092022a-300x170.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 665px) 100vw, 665px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Một góc Khu di tích lịch sử Lam Kinh tại xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. </em></p>
<p style="text-align: justify;">Mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt với người dân xứ Thanh, Lễ hội Lam Kinh 2022 gắn liền với 4 sự kiện quan trọng gồm: Lễ kỷ niệm 10 năm Di tích lịch sử Lam Kinh được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, 604 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 594 năm Vua Lê Thái Tổ đăng quang, 589 năm Ngày mất của Anh hùng dân tộc Lê Lợi. Lễ hội năm nay sẽ được tổ chức trong ba ngày từ 16-18/9 (tức ngày 21, 22, 23 tháng Tám Âm lịch) tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh (xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân) với tinh thần trang trọng, hiệu quả, tiết kiệm, phát huy giá trị các di tích gắn với quảngbá du lịch.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong khuôn khổ Lễ hội Lam Kinh năm 2022, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức, như: trò chơi, trò diễn, múa bản hội dân gian; biểu diễn xiếc, nghệ thuật truyền thống dân tộc; thuyết minh giới thiệu về công trình Chính điện Lam Kinh&#8230;; phim tài liệu 10 năm Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh; tổ chức dịch vụ lữ hành, quảng bá du lịch Thanh Hoá gắn với Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Lam Kinh, Khu Di sản Văn hóa thế giới Thành nhà Hồ, Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Bà Triệu, Khu Du lịch biển Sầm Sơn, suối cá thần Cẩm Lương. Lễ hội Lam Kinh 2022 sẽ góp phần tuyên truyền, tôn vinh, tri ân Anh hùng dân tộc Lê Lợi, các Vua Lê, các tướng sỹ, nhân dân có công lao đóng góp trong lịch sử dựng nước và giữ nước; khơi dậy nét đẹp truyền thống văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây cũng là hoạt động đẩy mạnh giới thiệu, quảng bá nét đẹp của vùng đất, giá trị và hình ảnh Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh tới bạn bè, du khách trong và ngoài nước; nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập; thúc đẩy sự liên kết, hợp tác trong quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử Lam Kinh, phát triển kinh tế &#8211; văn hóa xã hội trên địa bàn tỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sân điện Lam Kinh, nơi sẽ diễn ra các hoạt động chính của Lễ hội vào sáng 17/9, (tức ngày 22 tháng Tám Âm lịch), các đơn vị thi công đang trang trí pa-nô, khẩu hiệu tuyên truyền&#8230; Công tác tổng duyệt các chương trình nghệ thuật, phần hành lễ đang được tỉnh Thanh Hóa hoàn tất những giai đoạn cuối cùng. Ban Quản lý Di tích đã quan tâm vệ sinh môi trường, tu bổ, cải tạo cảnh quan&#8230; tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách khi về với Lam Kinh. Một không gian mang âm hưởng tâm linh đã và đang hiển hiện rõ nét ở Lam Kinh là nơi để cháu con hướng về với tấm lòng thành kính.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Đỗ Quang Trọng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa khẳng định, trong Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Khu Du lịch Lam Kinh được đặt trong tuyến du lịch trọng điểm của tỉnh Thanh Hóa gồm: thành phố Thanh Hóa &#8211; thành phố Sầm Sơn &#8211; Di sản Văn hóa thể giới Thành Nhà Hồ &#8211; Lam Kinh &#8211; suối cá Cẩm Lương. Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa sẽ tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị của Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh thời gian tới để Khu Di tích thực sự trở thành “điểm đến” quan trọng trên bản đồ du lịch của Thanh Hóa và cả nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Gần 6 thế kỷ trôi qua, với nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử đất nước, Lam Kinh, biểu tượng của lòng tự hào dân tộc về một giai đoạn lịch sử oai hùng chống quân xâm lược và công cuộc xây dựng quốc gia Đại Việt vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật cần được bảo tồn, tôn vinh, gìn giữ. Phát huy những giá trị lịch sử hào hùng đó, Thanh Hóa tập trung sức người, sức của hướng tới một Lễ hội Lam Kinh thành công, để Lễ hội Lam Kinh không chỉ là lễ hội của riêng Thanh Hóa, còn trở thành lễ hội mang tầm quốc gia.</p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>Theo Hoa Mai (TTXVN)-Tintuc.vn</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet-lam-kinh-diem-nhan-van-hoa-hap-dan/">Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh &#8211; Điểm nhấn văn hóa hấp dẫn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet-lam-kinh-diem-nhan-van-hoa-hap-dan/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lam Kinh- Dấu ấn 10 năm được công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt</title>
		<link>https://holevietnam.vn/lam-kinh-dau-an-10-nam-duoc-cong-nhan-di-tich-quoc-gia-dac-biet/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/lam-kinh-dau-an-10-nam-duoc-cong-nhan-di-tich-quoc-gia-dac-biet/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 16 Sep 2022 03:32:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=3103</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận Di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh là Di tích Quốc gia đặc biệt. Từ đó tới nay, Lam Kinh đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ về quy mô, diện mạo, trở thành điểm đến...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/lam-kinh-dau-an-10-nam-duoc-cong-nhan-di-tich-quoc-gia-dac-biet/">Lam Kinh- Dấu ấn 10 năm được công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><em>HLVN &#8211; Ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận Di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh là Di tích Quốc gia đặc biệt. Từ đó tới nay, Lam Kinh đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ về quy mô, diện mạo, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">10 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hóa nói chung, Sở VH-TT&amp;DL, Ban Quản lý Di tích lịch sử Lam Kinh nói riêng đã nỗ lực làm tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di tích; kêu gọi đầu tư, huy động các nguồn lực để phục dựng, tôn tạo khu di tích lịch sử Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-3100" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00010413still010-1663161850677963883157-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00010413still010-1663161850677963883157-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00010413still010-1663161850677963883157-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00010413still010-1663161850677963883157-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00010413still010-1663161850677963883157-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00010413still010-1663161850677963883157.jpg 1920w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Ông Vũ Đình Sỹ, Trưởng Ban quản lý Khu di tích lịch sử Lam Kinh, tỉnh Thanh Hóa cho biết:&#8221; Việc Lam Kinh được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt đã tạo động lực lớn để Ban quản lý nỗ lực trong gìn giữ và phát huy giá trị di tích&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Bia Vĩnh Lăng là bảo vật đặc biệt quan trọng ở khu di tích Lam Kinh, được dựng vào năm Thuận Thiên thứ 6, năm 1433, ghi thân thế, sự nghiệp và công lao to lớn của Vua Lê Thái Tổ. Sau khi Ban quản lý Khu di tích lịch sử Lam Kinh lập hồ sơ trình lên Chính phủ, ngày 30/12/2013, Bia Vĩnh Lăng được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận Bảo vật Quốc gia. Từ năm 2013 đến 2019, tại Lam Kinh đã có 5 tấm bia được công nhận Bảo vật Quốc gia, gồm Vĩnh Lăng (bia vua Lê Thái Tổ), Khôn Nguyên Chí Đức (bia Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao), Chiêu Lăng (bia vua Lê Thánh Tông), Dụ Lăng (bia vua Lê Hiến Tông) và Kính Lăng (bia vua Lê Túc Tông). Cũng trong năm 2013, Ban quản lý hoàn thành hồ sơ đề nghị công nhận Cây di sản và đã được Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận 18 cây di sản ở rừng Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-3101" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00021612still011-16631619109271468174667-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00021612still011-16631619109271468174667-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00021612still011-16631619109271468174667-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00021612still011-16631619109271468174667-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00021612still011-16631619109271468174667-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00021612still011-16631619109271468174667.jpg 1920w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2013 – 2014, Ban quản lý tiếp nhận bàn giao Đền thờ vua Lê Thái Tổ (xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân) và Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai (xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc) để quản lý theo đúng chức năng nhiệm vụ. Công tác bảo vệ, phục hồi rừng đặc dụng, đảm bảo vệ sinh môi trường, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh trong các khu lăng mộ, đường nội bộ… được nỗ lực thực hiện. Công tác bảo vệ an ninh trật tự và phòng chống cháy nổ được quan tâm, chỉ đạo sâu sát. Hàng chục xe điện được đưa vào hoạt động, phục vụ nhu cầu tham quan của du khách.</p>
<p style="text-align: justify;">Ban quản lý Di tích Lam Kinh đã đẩy mạnh việc phối hợp với các cơ quan báo chí truyền thông trong cả nước xây dựng các chương trình giới thiệu về Lam Kinh, xây dựng trang Website quảng bá, thực hiện chuyển đổi số, giúp  du khách  trong và ngoài nước dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu vẻ đẹp, giá trị của di tích Lam Kinh.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-3102" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00031018still012-1663161921440921216102-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00031018still012-1663161921440921216102-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00031018still012-1663161921440921216102-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00031018still012-1663161921440921216102-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00031018still012-1663161921440921216102-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00031018still012-1663161921440921216102.jpg 1920w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Ông Đỗ Quang Trọng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao &amp; Du lịch Thanh Hóa cho biết thêm:&#8221; Định hướng của ngành văn hóa nhằm tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị của Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh trong thời gian tới&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Đến nay, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh đã trở thành địa chỉ quan trọng trên bản đồ du lịch của Thanh Hóa và cả nước. Lượng khách đến với Lam Kinh ngày càng tăng.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-3099" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00041012still013-16631619914361328951312-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00041012still013-16631619914361328951312-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00041012still013-16631619914361328951312-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00041012still013-16631619914361328951312-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00041012still013-16631619914361328951312-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/09/thay-video-o-day00041012still013-16631619914361328951312.jpg 1920w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Cố đô Lam Kinh trầm mặc uy nghi, tỏa rạng ánh vàng son một thuở. Dòng chảy Hào khí Lam Sơn từ trong quá khứ được kết nối mạch nguồn đến hôm nay, trở thành động lực để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hóa tiếp bước cha ông, xây dựng quê hương đất nước ngày càng  thịnh vượng.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: Bản tin Thời sự tối ngày 14/9/2022</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/lam-kinh-dau-an-10-nam-duoc-cong-nhan-di-tich-quoc-gia-dac-biet/">Lam Kinh- Dấu ấn 10 năm được công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/lam-kinh-dau-an-10-nam-duoc-cong-nhan-di-tich-quoc-gia-dac-biet/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đi tìm mộ tổ họ Lê lại gặp họ Nguyễn</title>
		<link>https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 09 Mar 2022 10:49:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2608</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Nhiều dòng họ bị chia cách từ hàng trăm năm trước, đang được các thế hệ con cháu nỗ lực tìm kiếm, nối kết tỏ tường họ tộc. Gia phả họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế ghi rõ cụ Lê Đạo là Nguyễn Hữu Đạo &#8211; Ảnh: THÁI LỘC “Khi tìm về...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/">Đi tìm mộ tổ họ Lê lại gặp họ Nguyễn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>HLVN </em>&#8211; Nhiều dòng họ bị chia cách từ hàng trăm năm trước, đang được các thế hệ con cháu nỗ lực tìm kiếm, nối kết tỏ tường họ tộc.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2604" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-4-4read-only-1551409186737286507817.jpg" alt="" width="640" height="428" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-4-4read-only-1551409186737286507817.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-4-4read-only-1551409186737286507817-300x201.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Gia phả họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế ghi rõ cụ Lê Đạo là Nguyễn Hữu Đạo &#8211; Ảnh: THÁI LỘC</em></p>
<p style="text-align: justify;">“Khi tìm về cội nguồn tổ tiên, dường như có bề trên chỉ dẫn nên tôi giải đáp được nhiều vấn đề liên quan đến ông tổ mình và mối quan hệ ruột thịt với họ Nguyễn Hữu ở làng Phù Lưu Tế”- TS Lê Văn Nho</p>
<p style="text-align: justify;">Trong những ngày này, tại cánh đồng Thấm của làng Phù Lưu Tế (Mỹ Đức, Hà Nội), công trình tôn tạo khu lăng mộ của quốc vương Tư Tề, con trai trưởng của đức Thái tổ Lê Lợi, đang bước vào giai đoạn khẩn trương hoàn thành trong sự háo hức của con cháu họ Lê trên khắp cả nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện khởi đầu từ TS Lê Văn Nho, phó hiệu trưởng Trường ĐH Kỹ thuật y &#8211; dược Đà Nẵng. Ông đã dành thời gian, tâm huyết để tìm hiểu về ông tổ của mình, qua đó minh định về cuộc đời, sự nghiệp của vị quốc vương có nhiều ẩn khuất trong lịch sử.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Băn khoăn tìm kiếm</strong></p>
<p style="text-align: justify;">TS Lê Văn Nho thuộc đời thứ 20 họ Lê làng Lệ Sơn (Hòa Tiến, Hòa Vang, Đà Nẵng). Mấy năm trước, trong một buổi lễ tôn vinh con cháu có thành tích xuất sắc, TS Nho đã nêu ra những điều băn khoăn về ngài thủy tổ Lê Đại Độ của họ Lê ở Lệ Sơn, rằng: Nguyên quán ngài ở đâu? Tên họ gốc là gì? Đến Quảng Nam vào năm nào? Khi về Bắc thì mất ở đâu và mộ phần ở đâu? Bao nhiêu người vợ, và mộ phần của họ?&#8230; Những thắc mắc ấy xuất phát từ ghi chép trong gia phả họ Lê: &#8220;Ngài Lê Đại Độ là thế tổ thứ nhất nguyên gốc Thần Phù trấn Nghệ An, vào Quảng Nam dinh vào khoảng trước, sau năm 1430-1500 khai lập tộc Lê làng Lệ Sơn. Đến già ngài về Bắc từ trần và an táng tại quê nhà, không rõ mộ phần&#8221;. Những thắc mắc của TS Nho không được các bác trong họ trả lời vì chưa rõ cội nguồn.</p>
<p style="text-align: justify;">20 năm trước, họ Lê làng Lệ Sơn đã từng cử đại diện lên đường ra Bắc tìm manh mối về ngài tổ, từ Nghệ An, Hà Tĩnh đến Thanh Hóa, Ninh Bình vô vọng; ngay cả Ban liên lạc họ Lê Việt Nam tại Hà Nội cũng không lần ra được.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhờ quyết tâm, bền bỉ, TS Nho đã tìm ra ngài Lê Đại Độ chính là Lê Đạo (Độ), con trai của Lê Trừ và gọi Lê Lợi bằng chú ruột. Ngài từng tham gia cuộc bình Chiêm đất phương Nam và được sai phái đến đất Quảng Nam ngày nay lập ấp dựng nghiệp, trở thành thủy tổ họ Lê làng Lệ Sơn. Nơi ngài về Bắc mất là làng Phù Lưu Tế bên kia sông Đáy, nay là xã Phù Lưu Tế (Mỹ Đức, Hà Nội).</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2606" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ltt-2-4read-only-15514091867391857025304.jpg" alt="" width="640" height="428" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ltt-2-4read-only-15514091867391857025304.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ltt-2-4read-only-15514091867391857025304-300x201.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Khu lăng ghi là mộ tổ dòng họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế, Hà Nội, vừa được xác định là của cụ Lê Đạo &#8211; Ảnh: THÁI LỘC</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bất ngờ nối tiếp</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Một ngày giữa năm 2016, TS Nho nối kết được với ông Nguyễn Hữu Thủy, trưởng họ Nguyễn gốc ở Phù Lưu Tế. Ông Thủy dẫn TS Nho ra nhà thờ họ Nguyễn Hữu. Thật bất ngờ, phả đồ tộc Nguyễn Hữu treo ở đây được chia làm 2 phần: phần trên ghi họ Lê là Lê Khoáng sinh ra Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi. Lê Trừ sinh ra Lê Đạo, và còn chú thêm dòng &#8220;Cụ Lê Đạo chính là cụ Nguyễn Hữu Đạo&#8221;. Phần dưới nối tiếp của phả đồ tất cả đều là họ Nguyễn Hữu, tính từ Nguyễn Hữu Đạo&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Từ bao đời, dòng họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế truyền lại với con cháu là gốc Lê cải sang họ Nguyễn nhưng không rõ nguyên do. Đến năm 2010, khi trưởng họ Nguyễn Hữu Thủy đến ăn giỗ bên nhà thờ họ Lê ở thị trấn Tế Tiêu, người ở đây bất ngờ tìm thấy văn bản xưa ghi cụ thể việc cải họ ấy. Đem về, hội đồng họ Nguyễn Hữu mới bàn và đưa vào gia phả nội dung cải họ bắt đầu từ cụ Nguyễn Hữu Đạo chính là Lê Đạo; hội đồng dòng Nguyễn Hữu chính thức lập tông đồ đưa lên nhà thờ cho con cháu biết. Song, mọi chuyện vẫn dừng lại ngang đó chứ không có manh mối gì thêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nay đối chiếu những mảnh ghép dòng họ với những điểm trùng khớp kỳ lạ, hai bên thống nhất: họ Nguyễn Hữu ở Phù Lưu Tế và họ Lê ở Lệ Sơn có cùng ông tổ là Lê Đạo (Nguyễn Hữu Đạo). Mộ thủy tổ Lê Đạo nằm ở xứ Chùa Am ven dòng sông Đáy.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bổ sung khuyết sử</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, TS Nho tiếp tục tìm được những văn bản và chứng cứ chứng minh việc cải họ của cụ tổ Lê Đạo là theo Lê Tư Tề, con trai cả đức Thái tổ Lê Lợi, người được vua Lê Thái Tổ ban tước vương. Sau khi bị giáng xuống làm thường dân, Lê Tư Tề mới cải sang họ Nguyễn Hữu để mai danh ẩn tích. Là người theo phò Tư Tề vương, Lê Đạo phải đổi sang họ Nguyễn Hữu tương tự chủ tướng của mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự việc trong lịch sử được TS Nho diễn giải như sau: Lê Đạo và Lê Tư Tề theo Lê Lợi kháng Minh từ những năm đầu dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Sau thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (1428), nhà Hậu Lê bắt đầu có sự tranh giành ngôi vương giữa nhánh trưởng Tư Tề và nhánh thứ Nguyên Long, hình thành phe phái ủng hộ các bên. Sau khi quyết định nhường ngôi cho con thứ Nguyên Long (vua Lê Thái Tông), năm 1433, trước khi băng hà, vua Lê Lợi đã giáng Lê Tư Tề từ tước quốc vương xuống quận vương. Năm 1438, Tư Tề tiếp tục bị em trai là vua Lê Thái Tông giáng xuống làm thường dân, nên phải cùng những người hầu cận (gồm cả Lê Đạo) dạt về vùng ven sông Đáy ngày nay, cải sang họ Nguyễn để bảo toàn tính mạng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phát hiện mộ Lê Tư Tề</strong></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2605" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-1-4read-only-15514091867361654329035.jpg" alt="" width="640" height="428" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-1-4read-only-15514091867361654329035.jpg 640w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/ky-1-le-tu-te-1-4read-only-15514091867361654329035-300x201.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>Lăng mộ Lê Tư Tề ở Phù Lưu Tế (Hà Nội) suốt thời gian dài ghi là họ Nguyễn &#8211; Ảnh: THÁI LỘC</em></p>
<p style="text-align: justify;">Sau một thời gian thu thập, tra cứu, TS Nho xác định rõ ngôi mộ nhỏ đề &#8220;Tổ ông họ Nguyễn Hữu&#8221; ở cánh đồng Thấm, làng Phù Lưu Tế, Hà Nội là của Tư Tề vương, và ngày mất là 9-9 âm lịch (năm 1492), thọ 71 tuổi. Trong nhiều năm liền, khu lăng mộ đơn sơ không ai nghĩ tới đó chính là của ngài con trưởng đức vua Lê Thái Tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi mở đợt vận động, cả con cháu ngài Tư Tề lẫn nhiều nhà hảo tâm khác đã tích cực tham gia đóng góp hàng trăm triệu đồng để xây dựng một khu lăng có quy mô to lớn hơn (sẽ hoàn thành vào tháng 3-2019) để tương xứng với người từng kế vị Lê Thái Tổ nhưng bất thành.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: right;"><strong><em>                                                                                                       Theo Thái Lộc-tuoitre.vn</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">00:42 / 09:43</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/">Đi tìm mộ tổ họ Lê lại gặp họ Nguyễn</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/tram-nam-tim-kiem-ho-hang-ky-1-di-tim-mo-to-ho-le-lai-gap-ho-nguyen/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vua Lê Thánh Tông và chuyện trọng dụng hiền tài</title>
		<link>https://holevietnam.vn/vua-le-thanh-tong-va-chuyen-trong-dung-hien-tai/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/vua-le-thanh-tong-va-chuyen-trong-dung-hien-tai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 07 Mar 2022 15:06:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2601</guid>

					<description><![CDATA[<p>HLVN &#8211; Dưới triều Hậu Lê (1427 &#8211; 1527), có một vị vua mà tên tuổi và sự nghiệp vẻ vang của ông đã gắn liền với giai đoạn cường thịnh của nước Đại Việt &#8211; Ngài chính là vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497). Sử sách giai đoạn này có ghi chép: “Ngủ...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/vua-le-thanh-tong-va-chuyen-trong-dung-hien-tai/">Vua Lê Thánh Tông và chuyện trọng dụng hiền tài</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>HLVN </em>&#8211; Dưới triều Hậu Lê (1427 &#8211; 1527), có một vị vua mà tên tuổi và sự nghiệp vẻ vang của ông đã gắn liền với giai đoạn cường thịnh của nước Đại Việt &#8211; Ngài chính là vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497). Sử sách giai đoạn này có ghi chép: “Ngủ đêm, mọi nhà không phải đóng cửa, hầu như không có trộm cắp”, dân gian cũng có câu rằng: “Đời vua Thái Tổ, Thánh Tông/ Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông là bậc vĩ nhân của đất nước; là vị vua anh minh, văn võ tài lược, nhà cách tân vĩ đại, là đại diện của sự ấm no và an lành, của thái bình và thịnh trị; “Vua tự trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi, mà thánh học rất chăm, tay không lúc nào rời quyển sách. Các sách kinh sử, các sách lịch toán, các việc thánh thần cái gì cũng tinh thông&#8230;” (Đại Việt Sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức, 2020, Quyển XIII, Kỷ nhà Lê, tr.924). Ông cũng chính là người đã khai sáng danh xưng Quảng Nam (1471 – 2021).</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2599" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-20-1024x306.jpg" alt="" width="1020" height="305" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-20-1024x306.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-20-300x90.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-20-768x230.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-20-1536x459.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-20.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Lê Thánh Tông tên là Lê Tư Thành, là cháu của vua Lê Thái Tổ, và là con thứ tư của vua Lê Thái Tông, thân mẫu là Quang Thục thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuyện xưa kể rằng, lúc Thái hậu còn làm Tiệp dư (hàng đầu của 6 bậc nữ quan, dưới Tam Phi, Cửu Tần), đi cầu tự, chiêm bao thấy trời cho tiên đồng, rồi có thai. Khi sắp ở cữ, vì mệt mỏi thiếp đi, mơ thấy được đến chỗ Thượng đế, Thượng đế sai một tiên đồng xuống làm con Thái hậu, tiên đồng dùng dằng chưa chịu đi, Thượng đế giận, lấy cái hốt ngọc đánh vào trán làm chảy máu, ở trán hình như có vết như thấy khi chiêm bao, mãi đến khi chết vết ấy vẫn còn. Bà tỉnh dậy thì sinh hoàng tử Tư Thành đúng vào ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), tại chùa Huy Văn (nay là ngõ Văn Hương, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội).</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2585" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-02-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-02-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-02-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-02-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-02-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-02.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Thuở nhỏ, Tư Thành sống bên ngoài cung. Đến 4 tuổi mới được đưa vào cung cùng học với các thân vương. Theo các nhà viết sử, vua sinh ra có thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước. Ông không chỉ học hành sáng dạ, mà còn rất chịu khó, sớm tối không rời việc đọc sách.</p>
<p style="text-align: justify;">Lúc bấy giờ, quan ở Kinh diên là Trần Phong, một trong những thân vương dạy Tư Thành muốn thử tài ông, đưa đề bài vịnh con cóc. Trong vài giây ngắn ngủi, ông liền ứng đáp: <em>“Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi/ Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi/ Chép miệng dăm ba con kiến gió/ Nghiến răng chuyển động bốn phương trời&#8230;”. </em>Vị thân vương quá tâm phục, bèn quỳ xuống tâu: Bẩm điện hạ, với khẩu khí này, điện hạ đúng là chân mệnh đế vương!</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2586" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-03-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-03-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-03-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-03-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-03-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-03.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 3 tháng 10 âm lịch năm 1459, niên hiệu Diên Ninh thứ 6, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân đang đêm thì bắc thang lên tường thành, rồi chia làm ba đường lẻn vào cung cấm làm binh biến. Vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh bị giết, Lê Nghi Dân lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Hưng. Nghi Dân phong Bình Nguyên vương Tư Thành làm Gia vương, và sai dựng phủ Gia Hưng bên trái nội cung để Tư Thành ở.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2587" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-04-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-04-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-04-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-04-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-04-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-04.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Lê Nghi Dân lên ngôi, tin dùng các nịnh thần, sát hại bề tôi cũ và thay đổi pháp chế nên không được lòng dân và các đại thần, văn võ. Mãi gần tám tháng sau, vào ngày mồng 6 tháng 6 năm Canh Thìn (1460) nhân buổi thiết triều, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm&#8230; phối hợp với các tướng lĩnh nhất loạt đóng cửa cung vây bắt Nghi Dân và đồng bọn. Loạn Nghi Dân đến đó là dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">Binh biến thành công, nhóm đại thần bàn với nhau rằng:<em> “Ngôi trời là khó khăn, của báu rất quan trọng, nếu không phải là người đức lớn không thể đương nổi. Nay Gia Vương tư trời thông tuệ, tài lược trầm hùng, hơn cả mọi người, các vương không ai bằng, lòng người đều thuận thuộc, đủ biết ý trời đã giúp”</em>. Ngay ngày hôm ấy, đem kiệu đến đón vua ở Gia vương để về lên ngôi. Năm đó Lê Tư Thành mới 18 tuổi.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2588" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-05-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-05-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-05-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-05-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-05-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-05.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Thừa kế ngai vàng lúc vương quốc đang lâm vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc, vậy mà 38 năm trị quốc, thù trong, giặc ngoài được dẹp yên; nhà vua từng bước đưa triều Lê sơ phát triển tới đỉnh cao về nhiều mặt; tiến hành nhiều cải cách về chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, văn hóa; bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi. Ông là chủ soái Hội Tao đàn; là người chỉ đạo các Sử thần làm bộ Đại Việt Sử ký và ban hành Luật Hồng Đức &#8211; một di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2589" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-06-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-06-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-06-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-06-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-06-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-06.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Trong những thành tựu nói trên phải kể đến thành tựu về chiêu hiền đãi sĩ, trọng dụng hiền tài để trị nước, an dân.</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới triều Vua Lê Thánh Tông việc tuyển chọn người có đức, có tài được xem là điều hệ trọng nhất trong mọi điều hệ trọng với nhiều hình thức tiến bộ, tổ chức rất nghiêm ngặt.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà vua đã áp dụng hàng loạt các biện pháp cơ bản, mang tính hệ thống như khuyến khích việc học; tổ chức thi tuyển để lựa chọn người tài; đặt lệ bảo cử để không bỏ sót nhân tài; đặt lệ tập ấm để khuyến khích con cháu công thần lập thân; thực hiện chế độ tản quan để tỏ lòng tri ân với những người có công; đặt lệ khảo thi để khuyến khích nhân tài phấn đấu vươn lên; đặt lệ khảo khóa để đánh giá, phát huy thực tài của quan lại (Lê Đức Tiết: Bộ luật Hồng Đức, Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, NXB Tư pháp, 2010, tr.143-144).</p>
<p style="text-align: justify;">Học giả Trần Trọng Kim đã từng đánh giá: <em>“Thánh Tông là một ông vua thông minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị&#8230; mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đã hơn năm thế kỷ trôi qua, nhưng những bài học của Lê Thánh Tông để lại cho đất nước, cho dân tộc vẫn còn nguyên giá trị. &#8220;<em>Lê Thánh Tông không chỉ là một ông vua đầy tài năng và nhiệt huyết với tất cả các thành tựu nổi bật dưới thời trị vì của ông mà ông còn là một cái tên không thể mờ trong lịch sử và nền văn hoá nước nhà&#8221; </em>(Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh niên, tr.68). Với trí tuệ, tài năng kiệt xuất của mình, ông xứng đáng được xưng tụng là một vị minh quân, “nhân vật ngoại hạng”, “Vua Thánh” của nước Đại Việt.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2590" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-07-1024x307.jpg" alt="" width="1020" height="306" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-07-1024x307.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-07-300x90.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-07-768x230.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-07-1536x461.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-07.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Dưới thời vua Lê Thánh Tông, việc mở trường dạy học cho con em trong cả nước được khuyến khích, ông là vị vua đầu tiên trong lịch sử ban “Chiếu khuyến học”, được đời sau ghi lại trong Giai văn tập ký[1] với nhan đề là “Thánh Tông Thuần Hoàng đế khuyến học văn”.</p>
<p style="text-align: justify;">[1] Giai văn tập ký: Được lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm, sách chép tay, khổ 28x16cm, 28 tờ, không có tựa bạt, mục lục, không ghi tên tác giả. Sách này là tập hợp ghi chép những bài văn hay (giai văn), cả thảy gồm 33 bài, phần lớn của các tác giả đời Nguyễn như Hoàng Cao Khải, Phan Đình Phùng, Bùi Hướng Thành, Nguyễn Trọng Hợp, Dương Lâm, Đỗ Đình Liên(8) , Ngô Thế Vinh v.v&#8230; và bài thứ 30 (tờ 20a &#8211; 22a) có nhan đề là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến học văn, dịch nghĩa là: Bài văn khuyên chăm học của vua Thánh Tông Thuần Hoàng Đế.</p>
<p style="text-align: justify;">[2] Trường tư là trường do các thầy đồ hoặc các gia đình khá giả rước thầy về dạy tại nhà.</p>
<p style="text-align: justify;">[3]  Văn Miếu được dựng từ thời nhà Lý (1070) để thờ Khổng Tử. Đến thời Lê Thánh Tông, Văn Miếu được mở rộng, xây dựng khang trang hơn trước. Đây là nơi vừa để thờ những nhà sáng lập đạo Nho, nơi dựng bia các vị đỗ đầu đại khoa trong các kỳ thi Đình, đồng thời là trường đại học đào tạo các nhân tài cho vương quốc. “Mùa thu, tháng 8, làm Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền” (Đại Việt Sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Hồng Đức, Quyển III, Kỷ nhà Lý, trang 244).</p>
<p style="text-align: justify;">Ông chủ trương, mọi người dân, những ai muốn trở thành người có ích cho đất nước đều có quyền đi học. Không phân biệt trường tư [2], trường công do nhà nước mở. Tại kinh đô, nhà vua cho mở hai trường đại học là Văn Miếu Quốc Tử Giám [3] là nơi đào tạo các nhân tài về ngạch văn giai. Cùng với  đó là Điện Giảng Võ là nơi đào tạo các võ quan, tướng lĩnh cho quân đội.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà vua còn ra lệnh khắc in các bộ sách giáo khoa gồm: Tứ thư, Ngũ kinh, Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Văn tuyển, Cương mục để các học quan lấy đó làm tài liệu giảng dạy, tổ chức thi cử để chọn nhân tài. Bản thân vua Lê Thánh Tông thực sự là một tấm gương sáng về lòng ham học cho muôn dân.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ở ngôi vua, Lê Thánh Tông rất hay cải trang, mặc quần áo thường dân, vi hành khắp chốn để tìm hiểu cuộc sống của dân chúng và thị sát về đạo đức, năng lực của quan lại dưới quyền. Chuyện kể rằng, một lần, nhà vua vi hành đến văn miếu, lúc này trời cũng đã khuya, ông vẫn thấy một giám sinh trạc 50 tuổi đang chăm chú ngồi đọc sách và thỉnh thoảng húp một ngụm cháo loãng. Nhà vua đến gần hỏi: <em>&#8220;Người húp cháo gì mà ngon thế?”. “Thưa bác, con húp cháo hoa, nhà con hết muối rồi”,</em> người này đáp. Nhà vua rất cảm động ra về. Sáng hôm sau, có người đem gói quà đến biếu giám sinh. Khi mở ra, giám sinh vô cùng bất ngờ bởi món quà là một lọ muối vua ban cùng bên trong có một nén bạc. Từ đó, câu chuyện nhà vua thương người nghèo ham học lan truyền khắp nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Lê Thái Dũng trong tập sách Hoàng đế Lê Thánh Tông &#8211; câu chuyện và giai thoại, NXB Hồng Đức, 2021: Trong chính sách khuyến học, về cơ bản Lê Thánh Tông có kế thừa kinh nghiệm của các triều đại trước. Bên cạnh đó, vua còn đặt ra nhiều nghi thức khác nhau, nhưng tất cả không ngoài mục đích khuyến học, trong đó tập trung tôn vinh người đỗ đạt, khiến cho người học lấy đó làm vinh dự, làm mục tiêu để phấn đấu nỗ lực, noi theo&#8230;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2592" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-10-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-10-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-10-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-10-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-10-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-10.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Nhắc đến minh quân Lê Thánh Tông, không thể không nhắc đến những nghi thức khuyến học như Lệ treo bảng mực nhạt: coi như đã thi đỗ, nhưng chưa chính thức vì còn phải vào thi Đình để vua xét định thứ bậc danh hiệu, vì vậy bảng báo tên đỗ Tứ trường dùng mực nhạt để ghi tên, một bước chuẩn bị để khi treo bảng chính thức đề bằng chữ màu vàng. Lệ xướng danh; Lệ đại thần chúc mừng tân khoa; Lệ rước và treo bảng vàng; Lệ ban áo mão, cân đai, phẩm phục; Lệ đãi yến tiệc ở vườn Quỳnh Lâm; Lệ tân khoa nghe hát; Lệ ban cành hoa bạc; Lệ ban thưởng vật phẩm, tiền bạc. Lệ rước tân khoa đi chơi phố phường; Lệ phong tước trật; Lệ làm nhà cho tân khoa ở; Lệ vinh quy bái tổ; Lệ ghi tên người đỗ vào sách và dựng bia tiến sĩ để giáo dục cho muôn dân ham học để thành tài. Riêng việc dựng bia tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám, ông cho rằng <em>“để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái tiến lên&#8230;”.</em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2595" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-16-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-16-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-16-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-16-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-16-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-16.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Người xưa có câu: <em>“Khuyến học thì đại thịnh”</em>, <em>“Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”</em>; Lê Thánh Tông đã làm được, làm rất tốt điều đó và với chính ông cũng đã có lần tự bạch: <em>“Lòng vì thiên hạ lo âu/ Thay việc trời dám trễ đâu/ Trống rời canh còn đọc sách/ Chiêng xế bóng chửa thôi chầu&#8230;”.</em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2591" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-08-1024x306.jpg" alt="" width="1020" height="305" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-08-1024x306.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-08-300x90.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-08-768x230.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-08-1536x459.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-08.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2594" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-15-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-15-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-15-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-15-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-15-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-15.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Cha truyền con nối là quan điểm thông lệ của ý thức hệ phong kiến để duy trì quyền lực; việc <em>“Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa vẫn quét lá đa” </em>như là luật trời đã định. Những người tài sống ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc, những người dân thân phận nghèo khó dù có tài giỏi đến đâu cũng khó lòng chen chân vào chốn quan trường. Thế nhưng, với Lê Thánh Tông đã có cái nhìn khác, cách làm khác [4].</p>
<p style="text-align: justify;">Cái nhìn khác, cách làm khác của vua Lê Thánh Tông thể hiện ở quyết tâm loại bỏ tình trạng quan lại dốt nát mà hay kèn cựa, cậy công, cậy thế, tham lam ra khỏi bộ máy. Đây là công việc cực kỳ khó khăn, không thể hi vọng xoay chuyển trong ngày một, ngày hai. Theo đó, ông kiên định nguyên tắc: tất cả những ai muốn bước chân vào hoạn lộ, dù là con cháu của quan đại thần, dù là người thừa hành ở cấp thấp nhất đều phải là người đã trúng tuyển ở các kỳ thi. Đồng thời ông cũng cũng quy định rất rõ, mọi người trong nước, không kể nguồn gốc xuất thân, đều được phép dự thi [5]. Đại Việt Sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, Quyển XII ghi rõ: <em>“Mùa hạ, tháng 4, Quang Thuận năm thứ 3 (1462) ra lệnh chỉ cho các thí sinh trong nước, không cứ là dân hay lính, hạn tới thượng tuần năm nay đến nhà giám hay đạo sở tại, khai tên và căn cước đợi thi Hương. Ai đỗ thì gởi danh sách lên Lễ nghi viện để đến trung tuần tháng Giêng năm sau thi Hội. Cho quan sở tại và xã trưởng xã mình làm giấy bảo đảm rằng người ấy thực là có đức hạnh thì mới được vào danh sách dự thi. Kẻ nào bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa&#8230; thì dẫu học giỏi, văn thơ hay cũng không cho vào thi&#8230;”</em>. Điều này, chứng tỏ ngay từ đầu, vua Lê Thánh Tông đã kiểm soát chặt chẽ đầu vào của đội ngũ quan lại, ngăn không cho những kẻ kém phẩm chất, đạo đức đặt chân vào bộ máy trị vị của đất nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo tư liệu từ Bảo tàng Lịch sử quốc gia, việc tổ chức thi cử là độc quyền thuộc triều đình quản lý do Bộ Lễ đảm nhiệm. Những nội dung và quy định cụ thể mỗi kỳ thi do Bộ Lễ đề xuất và vua là người quyết định cuối cùng. Thể lệ này đến đời vua Lê Thánh Tông đã rất hoàn chỉnh; được tổ chức theo trình tự từ thấp lên cao và lần lượt qua các kỳ thi: thi Hương được tổ chức tại các phủ, huyện, châu. Thi Hội được tiến hành tại các Thừa tuyên (tỉnh) và thi Đình là kỳ thi tuyển cấp quốc gia diễn ra ở kinh đô [6]. Các kỳ thi này cũng là sự kiểm tra đánh giá tài năng thật sự của mỗi Nho sĩ để được tuyển dụng bổ nhiệm các chức quan trong triều. Đáng quan tâm là trước khi dự thi chính thức, các thí sinh đều phải trải qua hai môn khảo thí là thi toán và thi chính tả. Thí sinh nào giải được các bài toán của đề thi và viết chính tả không lỗi mới được vào dự thi [7].</p>
<p style="text-align: justify;">Các nội dung thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có 4 môn thi gồm: (1) 5 bài thi kinh nghĩa để khảo sát nhận thức kim, cổ, đông, tây qua đó đánh giá, nhận xét về nhân tình, thế thái của thí sinh; (2) Về pháp luật, thi viết các chiếu, chỉ, mệnh lệnh của vua; các chế, cảo ngày nay gọi là văn bản pháp quy; các biểu, sớ mà ngày nay gọi là báo cáo, tường trình lên quan trên hoặc nhà vua; (3) Thi làm thơ Đường luật; (4) Thi viết văn sách, tức là luận văn để khảo sát trí thức và mưu hoạch ứng phó với thời cuộc.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong đó, người thi đỗ môn thứ nhất mới được thi tiếp môn thứ hai, đỗ môn thứ hai mới được dự thi môn thứ ba và đỗ môn thứ ba mới được dự thi môn thứ tư. Người đỗ thi Hương mới được dự thi Hội. Đỗ thi Hội mới được về kinh dự thi Đình. Cùng với đó, vua lê Thánh Tông ban hành quy định thể lệ và kỷ luật thi cử rất cụ thể để nghiêm trị những kẻ gian dối trong thi cử.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2597" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-17-1024x576.jpg" alt="" width="1020" height="574" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-17-1024x576.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-17-300x169.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-17-768x432.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-17-1536x864.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-17.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Trong 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông đã tổ chức 12 khoa thi (đại khoa), đào tạo cho đất nước 501 vị tiến sĩ. Số người đỗ đại khoa (tiến sĩ, trạng nguyên) bằng một nửa số khoa bảng cao trong 397 năm thời Lý &#8211; Trần &#8211; Hồ cộng lại. Trong số 82 bia đá các khoa thi Tiến sĩ thời Lê &#8211; Mạc (1442 &#8211; 1779) tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, có 13 bia khắc các khoa tiến sĩ thời Lê sơ thì trong đó có 7 tấm bia đầu tiên do vua Lê Thánh Tông cho dựng vào năm 1484 để tôn vinh bậc đại hiền tài Nho học (7 tấm bia này đề danh tiến sĩ khoa thi các năm 1442, 1448, 1463, 1466, 1475, 1478 và 1481).</p>
<p style="text-align: justify;">Đây quả là một cống hiến vượt bậc của vua Lê Thánh Tông đối với đất nước. Đặc biệt, bài văn khắc trên bia đá của khoa thi đầu tiên năm 1442 được trích, dịch và thường xuyên lưu truyền cho đến ngày nay là “Hiền tài là nguyên khí quốc gia&#8221;. Đúng như Phan Huy Chú đã nhận định trong sách Lịch triều Hiến chương loại chí: <em>“Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau không thể theo kịp”.</em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2593" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-14-1024x306.jpg" alt="" width="1020" height="305" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-14-1024x306.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-14-300x90.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-14-768x230.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-14-1536x459.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-14.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Cùng với việc thi tuyển, để không bỏ sót những người có tài, có đức ra gánh vác việc nước, vua Lê Thánh Tông đặt ra lệ bảo cử. Đây là hình thức chọn những quan lại có quá trình công tác tốt, có tài năng và có kinh nghiệm thực tiễn quan trường, mà bổ vào những chức vụ quan trọng ở các cơ quan Trung ương và địa phương đang khiếm khuyết. Với lệ này, người đứng ra bảo cử phải lấy tước vị, phẩm hàm của mình để bảo đảm với nhà vua rằng người được bảo cử là xứng tài, xứng đức với chức vụ giao cho họ.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>“Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người giỏi thì bị biếm (giáng chức) hoặc phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì xử tội nặng thêm hai bậc”</em> (Điều 174, Bộ luật Hồng Đức); vì vậy, nhà sử học Phan Huy Chú có nhận xét rằng: “<em>Lệ bảo cử bắt đầu ở đời Hồng Đức. Bấy giờ việc ấy làm thận trọng, mà trừng phạt lại nghiêm, cho nên không ai dám bảo cử thiên tư, các chức đều xứng đáng, rốt cùng thu được hiệu quả là chọn được người.” </em>[8].</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới thời trị vì, vua Lê Thánh Tông còn đặt lệ tập ấm để khuyến khích con cháu công thần lập thân. Nhà vua, luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho những người trong hoàng tộc và con cháu các quan đại thần, những người có công với triều đại được học tập, nâng cao tri thức, tu dưỡng đạo đức, phẩm hạnh thành những người có thực tài đảm đương việc nước. Đồng thời, quan điểm của vua Lê Thánh Tông cũng rất rõ ràng, minh bạch và kiên quyết không để cho các đối tượng mượn thần, cậy thế của ông cha làm thang, bậc bước vào hoạn lộ. Nhất thiết họ phải thi đỗ trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, phải hội đủ các tiêu chí của một quan chức mới được bổ làm quan.</p>
<p style="text-align: justify;">Đáng chú ý, để khuyến khích nhân tài phấn đấu vươn lên, vua Lê Thánh Tông đặt ra lệ khảo thi; lệ này như là một ngày hội nô nức đua tài, đua sức của các quan lại thời bấy giờ. Cứ ba năm một lần, các quan văn, quan võ đương chức từ trong kinh đến ngoài đạo đều phải qua khảo thi. Không một quan chức nào được miễn trừ hoặc lẩn tránh. Khi khảo thi, các quan văn phải giải kinh nghĩa, làm thơ, phú, viết luận văn trả lời các đề thi về đạo trị đời, trị nước&#8230; của vua nêu ra. Các quan võ thì thi bắn cung, ném hỏa tiễn, đấu khiên, đua ngựa, đấu vật, đua thuyền, dàn quân, dàn trận. Người nào thi đỗ qua khảo thi thì được thưởng áo, tiền, được thăng chức, tước. Nếu không đỗ thì bị giáng cấp hoặc bãi chức [9]. Vì vậy, tất cả các quan chức đều có ý thức không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, khả năng của mình trong công việc được giao.</p>
<p style="text-align: justify;">Song song với lệ khảo thi, nhà vua còn ban hành lệ khảo khóa để đánh giá đúng và phát huy thực tài của quan lại. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, vào tháng 11 năm 1471, Hồng Đức năm thứ hai, vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ: <em>“Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước. Đời Đường, Ngu, ba năm một kỳ, xét công để thăng, giáng. Nhà Thanh, Chu, ba năm một lần, xét việc để định thưởng, phạt. Nay nha môn trong, ngoài các ngươi, người nào nhậm chức đã đủ ba năm, phải báo ngay lên quan trên không được để chậm. Nếu quá một trăm ngày mà không kê danh sách gửi đi thì tính số người chậm, mỗi người chậm thì phạt một quan tiền, kẻ nào theo tình riêng mà dung túng đều phải trị tội cả”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Khảo khóa, chính là công tác “đánh giá, nhận xét cán bộ” tương tự như cách chúng ta đang làm hiện nay. Khảo khóa là cơ sở để xem xét trong trăm quan ai là người mẫn cán, thanh liêm, làm được nhiều việc ích nước, lợi dân, ai là lời nói mà không đi đôi với việc làm, làm thì láo mà báo cáo thì hay. Việc khảo khóa được tiến hành qua lệ sơ khảo và thông khảo. Lệ sơ khảo cứ ba năm tổ chức một lần, sáu năm thì tái khảo và chín năm thì thông khảo. Sau mỗi kỳ sơ khảo, nếu ai được nhận xét là xứng chức thì tiếp tục được giữ chức; quan, lại nào bị coi là không xứng chức thì lập tức bị bãi chức hoặc giáng chức. Kế đến, là lệ tái khảo và thông khảo. Tức là, quan, lại nào đã qua ba lần sơ khảo, đến năm thứ 12 thì được thông khảo rồi trình lên cấp có thẩm quyền để xem xét việc thăng, giáng. Nếu thời điểm này, quan, lại nào được nhận xét là xứng đáng thì được phong chức, phong hàm thực thụ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách làm này của vua Lê Thánh Tông đã tạo ra những ngọn gió mát lành thổi vào tâm óc của trăm quan dưới quyền và cũng là minh chứng rất rõ về việc coi trọng thực tài, xây dựng một bộ máy trị vì năng động, có hiệu lực, hiệu quả. Những người nói nhiều mà làm được ít, nói hay mà không làm được thì bị thải  loại ra khỏi hàng ngũ quan chức. Ông cho rằng, quan lại kém đức, vô tài là mầm mống dẫn đến họa loạn, là nguyên nhân của những bất ổn trong xã hội; do đó ông chủ trương ràng buộc quan lại bằng những chế độ, những điều luật quy định trách nhiệm của trăm quan rất rõ ràng và có tính thực thi cao; thiết lập hệ thống các cơ quan thực thi cơ chế, chế độ giám sát, kiểm tra nhạy bén, rộng khắp, thường xuyên đối với mọi quan lại; đồng thời khen thưởng kịp thời, hậu hĩnh những quan lại mẫn cán, có tài; xử phạt nghiêm các quan lại kém đức, kém tài.</p>
<p style="text-align: justify;">Chiếu chỉ năm 1463, vua Lê Thánh Tông đã viết: <em>“Ta lưu tâm việc trị nước, dốc ý việc cầu tài, thường nghĩ những người tài làm được việc còn bị khuất ở hàng dưới, chìm lấp ở thôn quê, nên tìm hỏi người giỏi, mơ tưởng không quên”</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Sử cũ cũng chép, điều tâm niệm của Vua Lê Thánh Tông luôn mong muốn những bề tôi của mình là bậc hiền tài. Vua từng ra dụ hộ Thượng thư Bộ Nguyễn Cư Đạo (vốn là bạn của vua từ khi còn thơ ấu) rằng: <em>&#8220;Ta lúc còn ít tuổi làm bạn với ngươi, khi lên làm vua, ngươi làm quan Kinh diên. Nói về thần hạ thì ngươi đối với ta là bạn tri kỷ, là bạn học thức; nói về vua tôi thì ngươi với ta là duyên cá nước, là hội gió mây. Ngươi nên hết lòng hiệp sức, gắng sức báo đền ơn nước, chí công vô tư, ngăn lấp hối lộ. Được như thế, thì ta được tiếng là vua biết người, ngươi được tiếng là tôi hết trung, vinh hiển cha mẹ, vẻ vang danh tiếng, rạng rỡ trong sử sách, nghĩ lại chẳng khoái lắm sao? Nếu không được như thế, thì ta là vua không biết người, mà ngươi là tôi để làm vì. Trong hai điều ấy, ngươi chọn đằng nào thì chọn&#8221; </em>[10].</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Lê Đức Tiết ghi trong công trình nghiên cứu về Bộ luật Hồng Đức Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2010, tr.25, có đoạn: <em>“</em>Cho đến tận những ngày đầu tháng Chạp năm 1496 – năm cuối đời, trước khi bước vào cõi vĩnh hằng, vua Lê Thánh Tông còn ra sắc chỉ:<em> Các trưởng quan nha môn của nội quan giáp phủ&#8230; phải hiệp đồng lựa chọn các tướng hiệu dưới quyền mình, người nào có công lao đánh dẹp, trung tín đáng dùng, hoặc am hiểu thao lược, tinh thông võ nghệ cùng là người có tài năng trí tuệ, liêm khiết, giỏi giang, siêng năng, minh mẫn mới cho tại chức. Nếu kẻ nào hèn kém, không có công lao gì, cùng những kẻ bợ đỡ được dung thân, cầu mong vô liêm sĩ thì truất bỏ&#8230;”</em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2598" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-18-1024x309.jpg" alt="" width="1020" height="308" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-18-1024x309.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-18-300x91.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-18-768x232.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-18-1536x464.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/03/MINH-QUAN-LE-THANH-T-18.jpg 2000w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã ghi trong lời giới thiệu tập sách Minh quân Lê Thánh Tông và triều thần: <em>“Lê Thánh Tông là vị vua đã xây dựng đất nước cường thịnh, từ cách tân, canh tân đất nước, tôn trọng hiền tài, xây dựng văn bia tại Văn Miếu Quốc Tử giám, cho mở 12 khoa thi, xây dựng và mở rộng Kinh thành Thăng Long, là nhà văn hóa lớn, văn võ song toàn đã lập chiến công hiển hách trong công cuộc Nam chinh mở cõi nước Đại Việt rộng lớn”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Công đức của minh quân Lê Thánh Tông thật đáng khâm phục! Thật đáng để suy ngẫm!</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi chúng ta cùng ngẫm về chuyện xưa để nghĩ, để hướng tới chuyện hôm nay và tương lai bằng một khát vọng phát triển quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc; <em>tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia – dân tộc trên con đường đi tới tương lai </em>[11].</p>
<p style="text-align: justify;">Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ghi rõ: <em>“Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” </em>[12]. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXII, cũng đã nhấn mạnh: <em>“Kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các quy định, quy trình về công tác cán bộ&#8230; Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân </em>[13].</p>
<p style="text-align: justify;">Muốn thực hiện khát vọng đó, suy cho cùng phải tiếp tục có cơ chế, chính sách thật khả thi để trọng dụng hiền tài; phải coi hiền tài thực sự là “rường cột”, thực sự <em>“là nguyên khí của quốc gia”.</em> Phải làm thường xuyên, liên tục như <em>“người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” </em>như lời chỉ dạy của Bác Hồ kính yêu. Phải có một đội ngũ công bộc đủ mạnh, chuyên nghiệp, <em>“vừa hồng, vừa chuyên”; “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>                                                                                                                                         NGUYỄN HỮU SÁNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>                                                                                                                Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>                                                                                                                                          Tỉnh Quảng Nam</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[1] Giai văn tập ký: Được lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm, sách chép tay, khổ 28x16cm, 28 tờ, không có tựa bạt, mục lục, không ghi tên tác giả. Sách này là tập hợp ghi chép những bài văn hay (giai văn), cả thảy gồm 33 bài, phần lớn của các tác giả đời Nguyễn như Hoàng Cao Khải, Phan Đình Phùng, Bùi Hướng Thành, Nguyễn Trọng Hợp, Dương Lâm, Đỗ Đình Liên(8) , Ngô Thế Vinh v.v&#8230; và bài thứ 30 (tờ 20a &#8211; 22a) có nhan đề là Thánh Tông Thuần Hoàng Đế khuyến học văn, dịch nghĩa là: Bài văn khuyên chăm học của vua Thánh Tông Thuần Hoàng Đế.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[2] Trường tư là trường do các thầy đồ hoặc các gia đình khá giả rước thầy về dạy tại nhà.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[3]  Văn Miếu được dựng từ thời nhà Lý (1070) để thờ Khổng Tử. Đến thời Lê Thánh Tông, Văn Miếu được mở rộng, xây dựng khang trang hơn trước. Đây là nơi vừa để thờ những nhà sáng lập đạo Nho, nơi dựng bia các vị đỗ đầu đại khoa trong các kỳ thi Đình, đồng thời là trường đại học đào tạo các nhân tài cho vương quốc. “Mùa thu, tháng 8, làm Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền” (Đại Việt Sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Hồng Đức, Quyển III, Kỷ nhà Lý, trang 244).</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[4] Lê Đức Tiết: Bộ luật Hồng Đức Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2010, tr.147.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[5] Nói theo ngôn ngữ ngày nay được hiểu là “Chọn người tài chứ không phải là chọn người nhà”.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[6] Những người không đỗ bằng gì, gọi nôm là những người chân trắng, chữ nho gọi là “bạch thân”. Khi ra trận nếu được lập công to thì họ chỉ có thể được bổ làm quan võ.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[7] Lê Đức Tiết: Bộ luật Hồng Đức Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2010, tr.150.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[8] Ebook, Lịch triều Hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, tập một, quyển XIX; Quan chức chí, tr.689, 690.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[9] Lê Đức Tiết: Bộ luật Hồng Đức Di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2010, tr.163, 164.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[10] Đại Việt Sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Hồng Đức, 2020, Quyển XII, Kỷ nhà Lê, tr.825, 826</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[11] Dẫn theo Vũ Minh Khương: “Việt Nam 2045:Tầm nhìn khát vọng và sứ mệnh lịch sử”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam điện tử, ngày 17/01/2020.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[12] Ban Tuyên giáo Trung ương: Tài liệu nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb. Sự thật, 2021, tr.130.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>[13] Đảng bộ tỉnh Quảng Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2021-2025, tr.161, 162.</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/vua-le-thanh-tong-va-chuyen-trong-dung-hien-tai/">Vua Lê Thánh Tông và chuyện trọng dụng hiền tài</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/vua-le-thanh-tong-va-chuyen-trong-dung-hien-tai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hoàng tộc nhà Hậu Lê &#8211; Triều Lê sơ</title>
		<link>https://holevietnam.vn/hoang-to%cc%a3c-nha-ha%cc%a3u-le-trieu-le-so-1428-1527/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/hoang-to%cc%a3c-nha-ha%cc%a3u-le-trieu-le-so-1428-1527/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[canhnhac]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 01 Mar 2022 10:08:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức - Sự kiện]]></category>
		<category><![CDATA[Tri ân tiên tổ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2566</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nhà Hậu Lê &#8211; Lê sơ  là giai đoạn đầu của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê. Nhà Lê sơ được thành lập sau khi Lê Lợi đứng lên dựng cờ tụ nghĩa, phát động khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh bại quân Minh, mang lại độc lập cho Đại Việt  năm 1428. Thời đại Lê sơ có 10...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/hoang-to%cc%a3c-nha-ha%cc%a3u-le-trieu-le-so-1428-1527/">Hoàng tộc nhà Hậu Lê &#8211; Triều Lê sơ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Nhà Hậu Lê &#8211; Lê sơ</strong>  là giai đoạn đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_%C4%91%E1%BA%A1i">triều đại</a> quân chủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA">nhà Hậu Lê</a>. Nhà Lê sơ được thành lập sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_L%E1%BB%A3i">Lê Lợi</a> đứng lên dựng cờ tụ nghĩa, phát động <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_Lam_S%C6%A1n">khởi</a> nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh bại quân Minh, mang lại độc lập cho Đại Việt  năm 1428. Thời đại Lê sơ có 10 vị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_%C4%91%E1%BA%BF">hoàng đế</a> thuộc 6 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_h%E1%BB%87">thế hệ</a>, đây là thời kỳ các hoàng đế nhà Lê nắm trọn quyền hành, cũng là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. Đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%E1%BB%95">Lê Thái Tổ</a> (Lê Lợi), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng">Lê Thái Tông</a>, Lê Thánh Tông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A3_h%E1%BB%99i">xã hội</a> được đi vào ổn định, phát triển thịnh vượng. Năm Mậu Thân (1428), sau 10 năm kháng Minh thành công, Nhà Hậu Lê (Lê sơ) khai quốc, lên ngôi, đến năm Đinh Hợi (1527) là 99 năm. Từ năm Đinh Hợi (1527) đến năm Nhâm Thìn (1532), Nhà Lê sơ bị nhà Mạc soán ngôi, trải qua 6 năm không có niên hiệu hoàng đế.</p>
<p><strong>I- Từ Triệu tổ Cao hoàng đế Lê Hối đến Lê Thái Tổ &#8211; Lê Lợi: Tổ tiên của Đức Vua Lê Lợi (ông cố, ông nội và cha của Lê Lợi). </strong></p>
<p>&#8211; <strong>Triệu tổ Cao hoàng đế</strong><a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a><strong>, Huyền tổ tên húy Lê Hối</strong>: Triệu tổ Cao hoàng đế mất, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p>&#8211; <strong>Phổ Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Duyên:</strong> quê huyện Lôi Dương, xã Quần Đội, sinh ra Tuyên Tổ Phúc hoàng đế, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p>&#8211; <strong>Tuyên Tổ Phúc hoàng đế, húy Lê Đinh:</strong> trưởng tử của Triệu tổ, giỗ ngày 21.10, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p>&#8211; <strong>Trinh Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Quách:</strong> quê huyện Lôi Dương, xã Xuân Lan, sinh ra Hiển tổ Trạch Hoàng đế.</p>
<p>&#8211; <strong>Hiển tổ Trạch Hoàng đế, tên húy Lê Khoáng</strong><a href="#_ftn2" name="_ftnref2"><strong>[2]</strong></a><strong>:</strong> con thứ của Tuyên Tổ, giỗ ngày 17.10, táng tại lăng Phật Hoàng, động Chiêu Nghi.</p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Các danh hiệu này là do Lê Lợi sau khi lên ngôi vua đã suy tôn Cao tổ, Tằng tổ, Nội tổ và cha mẹ ruột của mình.</p>
<p><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Thương sinh 3 trai và 3 gái. 3 trai: Lê Học <em>(Hiển Tổ trưởng tử, phong Chiêu Hiếu Vương)</em>, Lê Trừ <em>(Hiển Tổ thứ tử, tôn Hoằng Dụ Vương)</em>, Lê Lợi <em>(Thái Tổ, Hiển Tổ quý tử).</em></p>
<p>Con Lê Học<em>: Lê Thạch (Lê Học trưởng tử, phong Trung Dũng Vương).</em></p>
<p>Con của Lê Trừ: Lê Khôi<em> (Trưởng tử, Chiêu Huy Đại vương), </em>Lê Khang (<em>Thứ 2, Hiển Công Vương), </em>Lê Khiêm <em>(Thứ 3, Xương quốc công),. Theo Lê tộc sinh hạ (1429): </em>Lê Trừ<em> còn có 2 con trai là </em>Lê Sao<em> (Qùy Quốc công) và quý tử là </em>Lê Đạo<em> (Thiếu úy Quận công). </em>3 gái: Công chúa Lê Thị Ngọc Vị (Tá), Lê Thị Ngọc Triển và Lê Thị Ngọc Biền.</p>
<p>&#8211; <strong>Hiển Từ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Thương</strong><a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a><strong>:</strong> quê huyện Lôi Dương, xã Thủy Chú – Vân Đô, sinh Thái Tổ Cao Hoàng Đế, giỗ ngày 17.10, táng tại lăng Bạch Thạch, thôn Chiêu Thị.</p>
<ol>
<li><strong> Từ Thái tổ Cao hoàng đế Lê Lợi đến Cung Tông Hoàng đế, húy Thung (còn đọc là Xuân):</strong></li>
</ol>
<p>1/-<strong>Thái tổ Cao hoàng đế, họ Lê, húy Lợi</strong>: con út của Hiển tổ, Đệ tam cung, sinh ngày 6.8 năm Ất Sửu (1385).</p>
<p>Vào ngày 9.1 năm Mậu Tuất, lúc 34 tuổi, ông khởi nghĩa ở huyện Lam Sơn, hiệu Lam Sơn động chủ. Năm 44 tuổi-Mậu Thân, ông lên ngôi vua (1428), niên hiệu Thuận Thiên, sau đổi Thái Bảo, tại vị 6 năm, thọ 49 tuổi.</p>
<p>Mất ngày 22.8 năm Quý Sửu (1433), táng tại Tẩm Điện (chính tẩm). Cũng trong năm ấy 2.9 hỏa hóa tại điện Cảnh Phúc. Cũng năm ấy, ngày 23.12 chuyển về Vĩnh Lăng ở Lam Sơn.</p>
<p>&#8211; <strong>Chánh tẩm Thái phi Trịnh Thị  Ngọc Lữ:</strong> quê huyện Lôi Dương, xã Bái Đô, giỗ ngày 26.12, sinh con trưởng là Lê Tư Tề làm Quốc vương, sau giáng xuống Quận Ai vương.</p>
<p>&#8211; <strong>Cung Từ Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần:</strong> quê huyện Lôi Dương, xã Quần Đội, sinh con là Văn Hoàng đế, giỗ ngày 24.3, táng huyện Lôi Dương, xã Thạnh Mỹ, lăng An Tiết, tại điện Hiển Nhân.</p>
<p>2/-<strong>Thái Tông Văn Hoàng đế, húy Lê Long</strong><a href="#_ftn2" name="_ftnref2"><strong>[2]</strong></a><strong>:</strong> con trai thứ của vua Lê Lợi, sinh ngày 22.11 năm Quý Mão (1423), hiệu Vạn Thọ Khánh Tiết.</p>
<p>Năm 11 tuổi, vào ngày 8.9 năm Quý Sửu (1433), lên ngôi vua, niên hiệu Thiệu Bình, tại vị 10 năm, thọ 20 tuổi, mất ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/12_th%C3%A1ng_8">12 tháng 8</a> năm Nhâm Tuất (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1442">1442</a>), táng tại Hựu Lăng, Lam Sơn.</p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Theo gia phả Trịnh tộc làng Thủy Chú: Cụ bà Trịnh Thị Ngọc Thương táng tại quê nhà của bà ở đồi Thao Quang, làng Thủy Chú (nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).</p>
<p><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Theo Lê triều ngọc phả: vua Lê Thái Tông có 4 con trai, 4 con gái. 4 con trai: Lê Nghi Dân (con trưởng), Lê Khắc Xương (con thứ 2), Lê Bang Cơ (Vua Lê Nhân Tôn, con thứ 3), Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông, con út).  4 con gái:  trưởng nữ là Lê Thị Ngọc Đường, thứ là Lê Thị Ngọc Hoàn (cùng mẹ với Nhân Tông), thứ 3 là Lê Thị Ngọc Điểm (cùng mẹ với Nghi Dân), út là Lê Thị Ngọc Tiết (cùng mẹ với Thánh Tông, là Ngô Thị Bính).</p>
<p>&#8211; <strong>Tuyên Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Anh:</strong> quê huyện Đông Sơn, xã Bố Vệ, sinh ra Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, giỗ ngày 3.10.</p>
<p>3/-<strong>Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, húy Bang Cơ:</strong> con thứ của Thái Tông, sinh ngày 9.8 năm Tân Dậu, hiệu Khánh Thiên Thánh Tiết.</p>
<p>Năm 2 tuổi, vào ngày 3.8 năm Nhâm Tuất lên ngôi vua lấy niên hiệu Thái Hòa, sau đổi Diên Ninh, tại vị 18 năm, thọ 19 tuổi, mất ngày 3.10 năm Kỷ Mão (1459), táng tại Mục Lăng, Lam Sơn</p>
<p>&#8211; <strong>Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao:</strong> quê huyện Yên Định, xã Đồng Bàng, sinh Thánh Tông Thuần Hoàng đế, giỗ ngày 26.3, táng tại quận Yên Định, xã Đồng Bàn, lăng lập ở điện Thừa Hoa, thờ cúng ở điện Thung Thôn</p>
<p>4/-<strong>Thánh Tông Thuần Hoàng đế, húy Thành</strong><a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a>, con út của Thái Tông, sinh ngày 20.7 năm Nhâm Tuất 1442, hiệu là Sùng Thiên Thánh Tiết.</p>
<p>Vào năm 19 tuổi, năm Kỷ Mão lên ngôi vua, niên hiệu Quang Thuận, Thiên Nam động chủ.</p>
<p>Mười một năm sau, vào năm Ất Sửu cải nguyên Hồng Đức 29 năm,  tại vị 39 năm.</p>
<p>Ngày 2.6 năm Đinh Tỵ lập thần vị là <em>“Thái tử hiệu Cảnh Thống thọ ngũ thập thất tuế”</em>, mất ngày 30.1 năm Mậu Ngọ (1497), táng tại Chiêu Lăng, Lam Sơn</p>
<p>&#8211; <strong>Huy Gia Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyền:</strong> quê huyện Tống Sơn, xã Gia Miêu, sinh ra Hiến Tông Ưng Hoàng đế, giỗ ngày 21.3</p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Vua Lê Thánh Tông có 14 con trai, 20 con gái.</p>
<p>14 con trai: Lê Tăng <em>(Lê Hiến Tông),</em> Lương vương <em>(Lê Thuyên)</em>, Tống vương <em>(Lê Tung</em>), Đường vương <em>(Lê Cảo),</em> Kiến Vương <em>(Lê Tân),</em> Phúc vương <em>(Lê Tranh),</em> Diễn vương <em>(Lê Thông)</em>, Quảng vương <em>(Lê Táo),</em> Lâm vương <em>(Lê Tương),</em> Ứng vương <em>(Lê Chiêu),</em> Nghĩa vương <em>(Lê Cảnh)</em>,Trấn Vương <em>(Lê Tranh),</em>Triệu vương <em>(Lê Thoan),</em> Kinh vương <em>(Lê Kiện).</em></p>
<p>20 con gái: Công chúa vua Lê Thánh Tông :</p>
<p>Công chúa Gia Thục (trưởng nữ), Ý Đức, Thụy Hoa, Chiêu Huy, Thiên Vương, Quỳnh Phương, Bảo Thanh, Dương Xuân, Mãn Đường, Thao Chi, Nhụy Vân, Cẩm Vinh, Giáng Hương, Cảnh Bình, Đoan Hòa, Kính Thuận, Diễm Văn, Trang công chúa, và hai công chúa mất sớm.</p>
<p>5/-<strong>Hiến Tông Dung Hoàng đế, húy Tăng</strong><a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a><strong>:</strong> con trưởng của Thánh Tông, sinh năm Giáp Ngọ.</p>
<p>Năm 24 tuổi lên ngôi ngày 2.2 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thống, xưng Thượng Dương Sơn động chủ, tại vị 8 năm, thọ 31 tuổi, mất ngày 24.5  năm Giáp Tý, táng tại Hựu Lăng.</p>
<p>&#8211; <strong>Trang Thuận Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Hoàn:</strong> quê huyện Thiên Thi, xã Bình Lăng, sinh Túc Tông Khâm Hoàng đế, giỗ ngày 15.12</p>
<p>6/-<strong>Túc Tông Khâm Hoàng đế, húy Thuần</strong> : con trưởng của Hiến Tông, sinh năm Tân Dậu. Năm 17 tuổi, ngày 2.6 năm Giáp Tý lên ngôi vua, niên hiệu Thái Trinh, tại vị 7 tháng, thọ 4 tuổi, mất ngày 18.12 năm Giáp Tý, táng tại Chiêu Lăng, Lam Sơn.</p>
<p>&#8211; <strong>Nhu Ý Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Thi</strong>, quê huyện Đông Ngạn, xã Phù Chẩn, sinh Đức Tông Kiến hoàng đế, giỗ ngày 22.3.</p>
<p>7/-<strong>Đức Tông Kiến hoàng đế húy Phô:</strong> sinh năm Mâu Ngọ, lúc 16 tuổi, năm, ngày 28.12 năm Giáp Tý lên ngôi vua, niên hiêu Đoan Khánh, tại vị 6 năm, thọ 21 tuổi, mất ngày 8.12 năm Kỷ Tỵ (1409), táng tại quê mẹ huyện Đông Ngạn, xã Phù Chẩn, An Định lăng.</p>
<p>&#8211; <strong>Huy</strong> <strong>Từ Hoàng Thái hậu Trinh Thị Ngọc Tuyên:</strong> quê Lôi Dương, xã Vĩnh Chú, sinh ra Minh Tông Triết hoàng đế.</p>
<p>8/-<strong>Minh Tông Triết Hoàng đế, Nhương đế, húy Sùng</strong>: con trưởng của Đức Tông, sinh năm Ất Mão (1495).</p>
<p>Năm 15 tuổi, ngày 3.5 năm Kỷ Tỵ, ông lên ngôi vua, niên hiệu Hồng Thuận, tại vị 8 năm, thọ 22 tuổi, mất 13.11 năm Bính Tý, táng tại huyện Khâm Thiên, xã Mỹ Xá.</p>
<p>&#8211;<strong>Đoan Mục Hoàng thái hậu Lê Thị Ngọc Loan Bảo</strong>: quê huyện Cát Trì, xã Vĩnh</p>
<p>Trung, sinh ra Chiếu Tông Thần Hoàng đế, giỗ ngày 13.11, táng tại Đoan Khắc điện</p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Vua Lê Hiến Tông có 5 trai, 10 gái. 5 con trai: Trưởng tử An vương Cẩm (Lê Tuân), thứ 2: Uy Mục đế (Lê Tuấn), thứ 3 Túc Tông đế (Lê Thuần), thứ 4 Minh Vương Tuyền, thứ 5 Thông vương (Lê Dung).</p>
<p>10 con gái không chép tên.</p>
<p>9/-<strong>Chiêu Tông Thần Hoàng đế:</strong> con trưởng của Minh Tông, sinh năm Ất Sửu, năm 12 tuổi, ngày 20.4 năm Bính Tý lên ngôi vua, niên hiệu Quang Thiệu,</p>
<p>Tại vị 7 năm, bị Mạc Đăng Dung giáng làm Đà Dương vương, thọ 18 tuổi, mất ngày 1.12 năm Nhâm Ngọ, táng tại Lam Sơn Nguyễn Xá, gần xã An Lạc.</p>
<p>&#8211;<strong>Gia Khánh Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Quỳnh:</strong> quê huyện Đoan Nguyên, sinh Trang Tông Dụ hoàng đế</p>
<p>10/-<strong>Cung Tông Hoàng đế, húy Thung</strong> (còn đọc là Xuân): là cháu của Đức Tông, là con thứ của Minh Tông, là em của Chiêu Tông, sinh năm Mậu Dần.</p>
<p>Khi ông 5 tuổi, vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522) lên ngôi vua, niên hiệu Thống Nguyên, tại vị 6 năm, bị Mạc Đăng Dung soán vị, thọ 10 tuổi, mất năm Đinh Hợi, táng tại huyện Khâm Thiên, xã Mỹ Hợp, An Tiết lăng.</p>
<p>Trích <strong><em>Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương, Bảo Đại năm thứ 19 (1944), tháng Hai, phụng sao. Bản V.1305 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm  </em></strong></p>
<p>Người dịch: Phạm Thúc Hồng</p>
<p>Tổ chức biên soạn – Hiệu đính: TS.BS. Lê Văn Nho</p>
<p>* Hoàng tộc Nhà Hậu Lê – Triều Lê sơ là đề mục do chúng tôi xây dựng.</p>
<p><em><strong>Chú thích:</strong></em></p>
[1] Các danh hiệu này là do Lê Lợi sau khi lên ngôi vua đã suy tôn Cao tổ, Tằng tổ, Nội tổ và cha mẹ ruột của mình.</p>
[1] Theo Lê triều ngọc phả: Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Thương sinh 3 trai và 3 gái. 3 trai: Lê Học <em>(Hiển Tổ trưởng tử, phong Chiêu Hiếu Vương)</em>, Lê Trừ <em>(Hiển Tổ thứ tử, tôn Hoằng Dụ Vương)</em>, Lê Lợi <em>(Thái Tổ, Hiển Tổ quý tử).</em></p>
<p>Con Lê Học<em>: Lê Thạch (Lê Học trưởng tử, phong Trung Dũng Vương).</em></p>
<p>Con của Lê Trừ: Lê Khôi<em> (Trưởng tử, Chiêu Huy Đại vương), </em>Lê Khang (<em>Thứ 2, Hiển Công Vương), </em>Lê Khiêm <em>(Thứ 3, Xương quốc công),. Theo Lê tộc sinh hạ (1429): </em>Lê Trừ<em> còn có 2 con trai là </em>Lê Sao<em> (Qùy Quốc công) và quý tử là </em>Lê Đạo<em> (Thiếu úy Quận công). </em>3 gái: Công chúa Lê Thị Ngọc Vị (Tá), Lê Thị Ngọc Triển và Lê Thị Ngọc Biền.</p>
[1] Theo gia phả Trịnh tộc làng Thủy Chú: Cụ bà Trịnh Thị Ngọc Thương táng tại quê nhà của bà ở đồi Thao Quang, làng Thủy Chú (nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).</p>
[1] Theo Lê triều ngọc phả: vua Lê Thái Tông có 4 con trai, 4 con gái. 4 con trai: Lê Nghi Dân (con trưởng), Lê Khắc Xương (con thứ 2), Lê Bang Cơ (Vua Lê Nhân Tôn, con thứ 3), Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông, con út).  4 con gái:  trưởng nữ là Lê Thị Ngọc Đường, thứ là Lê Thị Ngọc Hoàn (cùng mẹ với Nhân Tông), thứ 3 là Lê Thị Ngọc Điểm (cùng mẹ với Nghi Dân), út là Lê Thị Ngọc Tiết (cùng mẹ với Thánh Tông, là Ngô Thị Bính).</p>
[1] Theo Lê triều ngọc phả: Vua Lê Thánh Tông có 14 con trai, 20 con gái.</p>
<p>14 con trai: Lê Tăng <em>(Lê Hiến Tông),</em> Lương vương <em>(Lê Thuyên)</em>, Tống vương <em>(Lê Tung</em>), Đường vương <em>(Lê Cảo),</em> Kiến Vương <em>(Lê Tân),</em> Phúc vương <em>(Lê Tranh),</em> Diễn vương <em>(Lê Thông)</em>, Quảng vương <em>(Lê Táo),</em> Lâm vương <em>(Lê Tương),</em> Ứng vương <em>(Lê Chiêu),</em> Nghĩa vương <em>(Lê Cảnh)</em>,Trấn Vương <em>(Lê Tranh),</em>Triệu vương <em>(Lê Thoan),</em> Kinh vương <em>(Lê Kiện).</em></p>
<p>20 con gái: Công chúa vua Lê Thánh Tông :</p>
<p>Công chúa Gia Thục (trưởng nữ), Ý Đức, Thụy Hoa, Chiêu Huy, Thiên Vương, Quỳnh Phương, Bảo Thanh, Dương Xuân, Mãn Đường, Thao Chi, Nhụy Vân, Cẩm Vinh, Giáng Hương, Cảnh Bình, Đoan Hòa, Kính Thuận, Diễm Văn, Trang công chúa, và hai công chúa mất sớm.</p>
[1] Theo Lê triều ngọc phả: Vua Lê Hiến Tông có 5 trai, 10 gái. 5 con trai: Trưởng tử An vương Cẩm (Lê Tuân), thứ 2: Uy Mục đế (Lê Tuấn), thứ 3 Túc Tông đế (Lê Thuần), thứ 4 Minh Vương Tuyền, thứ 5 Thông vương (Lê Dung).</p>
<p>10 con gái không chép tên.</p>
<p><em><strong>Tài liệu tham khảo:</strong></em></p>
<ul>
<li>Đại Việt sử ký toàn thư</li>
<li>Lê triều ngọc phả (Hoàng Lê ngọc phả)</li>
<li>Lê tộc sinh hạ</li>
<li>Hoàng Lê ngọc phả tập ký</li>
<li>Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương</li>
<li>Gia phả tộc Trịnh làng Thủy Chú – Vân Đô (Xuân Thắng- Thọ Xuân- Thanh Hóa)</li>
</ul>
<p><em>  </em><strong>TS.BS. Lê Văn Nho </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/hoang-to%cc%a3c-nha-ha%cc%a3u-le-trieu-le-so-1428-1527/">Hoàng tộc nhà Hậu Lê &#8211; Triều Lê sơ</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/hoang-to%cc%a3c-nha-ha%cc%a3u-le-trieu-le-so-1428-1527/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Những người mẹ sinh ra 14 hoàng tử của vua Lê Thánh Tông- Nhân tưởng niệm 525 năm ngày giỗ vua Lê Thánh Tông (30/01 âm lịch, 1497-2022)</title>
		<link>https://holevietnam.vn/tuong-niem-525-nam-ngay-gio-cua-vua-le-thanh-tong-30-01-am-lich-1497-2022/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/tuong-niem-525-nam-ngay-gio-cua-vua-le-thanh-tong-30-01-am-lich-1497-2022/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[canhnhac]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 01 Mar 2022 09:08:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tìm về cội nguồn]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<category><![CDATA[Tri ân tiên tổ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2560</guid>

					<description><![CDATA[<p>Thánh Tông thuần Hoàng đế, tên là Tư Thành (húy Hạo), con thứ 4 vua Thái Tông, mẹ là Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, người ở Động Bàng, Yên Định, Thanh Hóa. Vua có thiên tư, thần thái khác thường. Năm Thái Hòa thứ 3 đã được phong làm Bình Nguyên...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tuong-niem-525-nam-ngay-gio-cua-vua-le-thanh-tong-30-01-am-lich-1497-2022/">Những người mẹ sinh ra 14 hoàng tử của vua Lê Thánh Tông- Nhân tưởng niệm 525 năm ngày giỗ vua Lê Thánh Tông (30/01 âm lịch, 1497-2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Thánh Tông thuần Hoàng đế, tên là Tư Thành (húy Hạo), con thứ 4 vua Thái Tông, mẹ là Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, người ở Động Bàng, Yên Định, Thanh Hóa.</p>
<p>Vua có thiên tư, thần thái khác thường. Năm Thái Hòa thứ 3 đã được phong làm Bình Nguyên Vương. Ngày mồng 8 tháng 6, Vua lên ngôi tại điện Tường Quang, xưng là Nam Thiên Động Chủ, lấy ngày sinh làm Sùng Thiên Thánh Tiết, 2 lần cải nguyên (Quang Thuận 11 năm bắt đầu từ năm Canh Thìn (1460), Hồng Đức (28 năm), bắt đầu từ năm Canh Dần (1470). Quang Thuận thứ 8 mới xưng là Hoàng thượng chế cáo.</p>
<p>Vua mất vào giờ Thìn ngày 30 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1497), ở cung Bảo Quang, trị vì 38 năm, thọ 56 tuổi, mộ táng ở bên tả Vĩnh Lăng Lam Sơn, gọi là Chiêu Lăng, tôn tên thụy là Sùng Thiên Quảng Vận, Cao Minh Quang Chính, Chí Đức Đại Công, Thánh Văn Thần Võ, Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế, miếu hiệu Thánh Tông.</p>
<p>Theo Lê tộc sinh hạ (1429), Hoàng Lê ngọc phả (1780), Lê tộc nguyên phả (1897): vua Lê Thánh Tông có 14 con trai, 20 con gái.</p>
<p>&#8211; 14 Hoàng tử vua Lê Thánh Tông: Lê Tăng <em>(Lê Hiến Tông)</em><em>,</em> Lương vương <em>(Lê Thuyên)</em>, Tống vương <em>(Lê Tung</em>), Đường vương <em>(Lê Cảo)</em><em>,</em> Kiến Vương <em>(Lê Tân)</em><em>,</em> Phúc vương <em>(Lê Tranh)</em><em>,</em> Diễn vương <em>(Lê Thông)</em>, Quảng vương <em>(Lê Táo)</em><em>,</em> Lâm vương <em>(Lê Tương)</em><em>,</em> Ứng vương <em>(Lê Chiêu)</em><em>,</em> Nghĩa vương <em>(Lê Cảnh)</em>,Trấn vương <em>(Lê Tranh)</em><em>,</em>Triệu vương <em>(Lê Thoan)</em><em>,</em> Kinh vương <em>(Lê Kiện)</em><em>.</em></p>
<p>&#8211; 20 Công chúa vua Lê Thánh Tông : Công chúa Gia Thục (trưởng nữ), Ý Đức, Thụy Hoa, Chiêu Huy, Thiên Vương, Quỳnh Phương, Bảo Thanh, Dương Xuân, Mãn Đường, Thao Chi, Nhụy Vân, Cẩm Vinh, Giáng Hương, Cảnh Bình, Đoan Hòa, Kính Thuận, Diễm Văn, Trang công chú, và hai công chúa mất sớm.</p>
<p>&#8211; Căn cứ bản phả <em>Lê tộc sinh hạ</em>, chép năm Thuận Thiên thứ hai, 1429 do anh em nhà Đức Vua Lê Lợi với sự hiện diện của người anh thứ hai của Lê Lợi là Lê Trừ (anh cả Lê Lợi là Lê Học mất sớm) cùng các con cháu trong gia đình. Hiện nay, bản Lê tộc sinh hạ còn lưu tại họ Lê xã Diễn Hùng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và được dịch quốc ngữ năm 1969.</p>
<p>&#8211; Căn cứ <em>Lê triều ngọc phả (Hoàng Lê ngọc phả</em>) là bản ngọc bản phả do sử quan Nhà Hậu Lê trung hưng <em>gồm </em><em>Nguyễn Hài, Trọng Viêm, Nguyễn Doãn</em> phụng chép năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780).</p>
<p>&#8211; Căn cứ <em>Lê tộc nguyên phả</em> của họ Lê làng Trinh Nga, xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa do ông Lê Quang Cát và anh Lê Quang Mùi là hậu duệ hoàng tử út con vua Lê Thánh Tông là Kính vương Kiện tức Lê Kiện đang lưu giữ. <em>Lê tộc nguyên phả</em> được viết trên giấy dó, khổ sách là 16 cm x 29 cm, dày 57 trang. Bìa phả ghi bốn chữ lớn <em>Lê tộc nguyên phả</em>, bên cạnh lại ghi “Long tập Đinh Dậu hạ quí vọng tiền” (trước rằm tháng 6 mùa hạ năm Đinh Dậu) và “Trinh Nga tông tử Quang Mai phụng biên” (con của dòng họ ở Trinh Nga là Quang Mai kính ghi). Cuốn phả được sao chép lại ngày 15 tháng 6 năm Thành Thái (1897).</p>
<p>Trên cơ sở căn cứ các bản phả, ngọc phả trên, chúng tôi xác định được 14 hoàng tử là con vua Lê Thánh Tông với các bà vợ của vua Lê Thánh Tông (Chính sử không chép về những điều này!)</p>
<p><strong>1- Nguyễn Hoàng hậu húy Huyên (Hằng), </strong>vợ Thánh Tông, mẹ Hiến Tông. Người trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn, là con gái ông Nguyễn Đức Trung được tặng hàm Thái úy Trình Quốc công. Tháng 7 năm Quang Thuận thứ nhất (1460), bà được tuyển vào cung, phong Sùng Nghi ở cung Vĩnh Ninh. Bà được vua yêu quý nhất trong các cung nhân khác. Nhà vua chưa sinh thái tử, bà Quang Thục Hoàng thái hậu sai ông Nguyễn Đức Trung cầu đảo ở am Từ Công núi Phật Tích. Bà bèn chiêm bao, đến trước thượng đế ban xin cho có con nối ngôi. Thượng Đế phán:” cho Thiên Lộc xuống làm con họ Nguyễn”, rồi bế đến đưa cho, lúc ấy bà tỉnh dậy. Không bao lâu bà có thai. Khi ông Đức Trung mới làm lễ cầu đảo ở Am Từ công thì có hòn đá rơi vào trước mặt. Ông lấy làm lạ sai thợ tạc làm một pho tượng rồi bỏ hòn đá vào trong tượng, làm riêng một cái am để thờ, dấu kín việc ấy. Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, bà nằm thấy rồng vàng trên trời hiện xuống bay vào nơi bà nằm. Trong chốc lát, bà sinh Hoàng tử (tức vua Hiến Tông). Ba năm sau, con bà được lập làm hoàng thái tử. Năm Hồng Đức thứ nhất (1470) được phong là quý phi. Bà được hưởng ơn vua nhiều hơn. Nhà vua đã mấy lần muốn lập làm hoàng hậu, nhưng thấy dòng họ nhà bà có thế mạnh sợ các tần thiếp không ai dám gần vua, nên lại thôi. Năm thứ hai mươi tám (1497), vua Thánh Tông mất, vua Hiến Tông lên nối ngôi tôn bà làm hoàng thái hậu, để ở điện Trường Lạc, phụng dưỡng rất chu đáo. Năm Cảnh Thống thứ ba (1500) trùng tu chùa Thiên Phúc, ban hiệu cho Am Từ công là Am Hiền Thụy, dựng bia, sai Nguyễn Bảo soạn văn ghi lại việc ấy theo lời di chúc của ông Nguyễn Đức Trung. Năm thứ bảy (1504), vua Hiến Tông mất, vua Túc Tông lên thay, tôn hiệu thái hậu, làm Thái hoàng hậu. Vua Túc Tông mất không có con nối ngôi, đình thần Nguyễn Như Vi và Kính phi họ Nguyễn muốn lập vua Uy Mục. Thái hậu cho là con của tì thiếp không thể nối ngôi đại thống. Nhân đó bà đòi lập Côi Vương. Như Vi vờ theo lệnh của thái hậu ra đón Côi Vương. Thái hậu đem lòng tin. Khi đi rồi Như Vi vào đóng cửa thành lại, gọi các công khanh đã vào, theo di chúc của vua Túc Tông, ra lập Uy Mục làm vua. Thái hậu dừng lại, quay trở về cung tỏ ý không bằng lòng. Ngày 22 tháng 3 năm Đoan Khánh thứ nhất (1505), vua Uy Mục sai người nương hầu ngẩm giết chết thái hậu. Sau bà được dâng tên thụy Huy Gia Tĩnh Mục Ôn cung nhu thuận, Thái hoàng thái hậu. Lập điện Quang Mỹ ở phường Lệ Viên, thuộc huyện Quảng Đức để phụng thờ tổ tiên của bà. Bà mất ngày 22 tháng 3, táng ở trang Gia Miêu, huyện Tống Sơn.</p>
<ol start="2">
<li><strong>Phùng </strong><strong>Diễm Qúy H</strong><strong>oàng hậu huý Ngọc Trầm</strong>, vợ Thánh Tông, mẹ Kiến Vương Tân, người xã Mỹ Xá, huyện Ngự Thiên. Ông nội tên là Phùng Nhậm, cha là Phùng Văn Đạt làm chức Giám nghị đại phu thuộc Tả ti môn hạ sảnh, trị Tây đạo quần dân bạ tịch. Mẹ họ Trần người xã Bắt Quả, huyện La Giung, là con gái quan chỉ huy Trần Công Diễn, vốn là Tông thất nhà Trần. Hoàng hậu sinh ngày Bính Tí, tháng 7 năm Thái Hoà Giáp Tí (1444), ở lộ Hóa Châu, trong lúc cha là Văn Đạt làm quan ở đó. Lúc 17 tuổi bà được tuyển vào làm cung tấn, hầu vua Thánh Tông ở tiềm đế. Năm Quang Thuận thứ hai (1461), tháng 7 ngày Mậu Dần phong làm Tu viên. Năm thứ bảy (1467) sinh ra Kiến Vương. Tháng 7 ngày Tân Mùi phong làm Sùng viên. Tháng 10 năm Hồng Đức thứ hai mươi (1489) bà có bệnh, vua cho ra phủ Kiến Vương tĩnh dưỡng. Tháng 12 ngày Bính Tuất, bà mất thọ 71 tuổi &#8220;. Về sau con Kiến Vương là vua Tương Dực lên ngôi. Năm Hồng Thuận thứ nhất (1509) truy tôn Nhu Huy Tích Quang Thuần Thanh Khâm Thận Ôn mục Gia hoà, Lưỡng tín, Đôn thục Trinh hiến Chương phúc hoàng thái hậu.</li>
<li><strong>Phạm</strong><strong> Thị</strong><strong> Minh phi</strong><strong> huý Bi</strong><strong>ề</strong><strong>n</strong>, vợ Thánh Tông, mẹ thị Ngọc Oánh, Tống Vương Tung, thị Lan Khuê. Bà người Dạ Trì, huyện Thiên Thiệu, tỉnh Thanh Hoá, là cháu quan tặng hàm đô đốc Đồng Tri tên Thành, là con Khang Vũ Bá Phạm Văn Liêm . Bà dược tuyển vào cung ngày Mậu Ngọ tháng 7 năm Quang Thuận thứ hai (1461). Tháng 9 năm Đinh Mùi phong làm Tiệp dư. Ngày Nhâm Dần tháng 7 năm thứ tư (1463) sinh thị Ngọc Oánh. Ngày Nhâm Tí tháng 11 phong Úy Dung. Tháng 7 năm thứ sáu (1465) thăng Tu viên, ngày mùng một Ất Tỵ tháng 9 năm thứ bảy (1466) sinh Tống Vương Tung. Ngày Kỷ Mão tháng 7 năm Hồng Đức thứ nhất (1470) sinh Lan Khuê công chúa. Ngày Quý Sửu tháng 6 năm thứ hai (1471) thăng Chiêu viên. Ngày Bính Dần tháng 11 năm thứ tám (1477) phong Minh phi ở cung Thuỵ Đức. Năm thứ hai tám (1497) vua Thánh Tông mất. Năm Cảnh Thống thứ nhất (1498), bà là cung phi triều trước phụng thờ ở cung Thiên An. Không bao lâu bị bệnh, mất ngày Giáp Ngọ tháng 9, thọ 50 tuổi vua ban số tiển an ủi 27 vạn, sai quan dụ tế mang về an táng ở Linh Hòa thuộc Lương Giang, tỉnh Thanh Hoá.</li>
<li><strong> Nguyễn </strong><strong>Kính phi</strong><strong> huý Chưởng</strong>, vợ Thánh Tông, mẹ Liệu Hoa công chúa. Nuôi hoàng tử thứ tám tên Tác làm con trai bà và hoàng nữ thứ mười một tên là Nhụy Vân nương. Bà người xã Bất Căng huyện Lôi Dương. Cha bà tên Đức giữ chức đô đốc, tứ vệ Thần Vũ. Mẹ bà họ Nguyễn, người xã Đại Trung- Hoằng Hoá, là con gái quan chuyển vận sứ Nguyễn Nhân Mỹ đã quá cố. Mồ côi cha từ thưở nhỏ, được quan Thái Bảo Giảm Cung hầu Lê Hiệu nuôi. Nhân đó bà nhập tịch làng Lam Sơn, được tuyển vào cung tháng 7 năm Quang Thuận thứ nhất (1460). Ngày Mậu Tí 15 tháng 9 sinh hoàng nữ thứ ba tên thị Trà công chúa. Trà tức công chúa Thụy Hoa hiệu Minh Kính. Ngày Mậu Tuất tháng 12 năm thứ năm (1464) thăng Tiệp dư. Ngày Tân Mùi tháng 7 năm thứ bẩy (1466) thăng Sùng dụng ở Cung Xuân Trường. Ngày Mậu Ngọ tháng 11 năm Hồng Đức thứ hai (1471) được vua sai nuôi hoàng tử tên là Tác làm con. Tháng 7 năm Hồng Đức thứ ba (1472) thăng Tu dung ở điện Thọ Am. Ngày Bính Tuất tháng 6 nhuận năm thứ năm bà sinh hoàng nữ thứ 11. Ngày Đinh Tỵ tháng 10 năm thứ tám (1477) phong Kính phi. Ngày Nhâm Dần tháng 3 năm thứ mười sáu (1485) bà mất giờ Mùi thọ 41 tuổi, táng xứ đồng Phúc Lâm, quê ngoại. Vua uỷ ông Đức Nghi làm chủ trì lễ tang. Vua cho 6 vạn quan tiền. Vua rất thương tiếc. Ngày Mậu Thân vua sai quan trung sứ Hoàng Lộc dụ tế bà. Lời văn đại khái nói: &#8220;Bà từ tuổi trẻ được kén vào cung, đức hạnh dung nghi, thực không đáng thẹn, trời đã ban cho hạnh phúc xanh tươi, lại thêm vẻ sao ngời sáng. Đã hẳn nghiệp trị binh, gốc ở tề gia. Đúng lúc đang phú hoá, cớ sao cuộc thọ yểu gắn liền số mệnh, vội vàng người đã lên tiên&#8221;. Tháng 5, vua sai quan trung sứ dụ tế, đem về mai táng xứ Tam Lư, huyện Lôi Dương. Bà là người khiêm tốn dịu dàng, vui buồn không tỏ ra nét mặt. Nói năng với kẻ khác vừa nhẹ nhàng thân thiết. Mỗi khi vào hầu được vua sai khiến hết lòng kính mến. Khi vua mệt, bà hầu hạ rất ăn cần chu đáo. Sớm hôm không lúc nào trễ nải. Khắp trong nội cung không ai hơn được. Bà lại ham đọc sach, thông hiểu đại nghĩa, ăn mặc tiết kiệm, đơn bạc, không trang điểm xa hoa, đáng khen bà hiển đức.</li>
<li><strong>Nguyễn Tài nhân</strong><strong> huý C</strong><strong>ân,</strong> vợ Thánh Tông, mẹ Phúc Vương Tranh. Bà là người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm. Ông tổ 5 đời Nguyễn Văn Linh , làm quan ở Viên Xa. Tổ 4 đời tên là Thần, làm quan nhập nội hành khiển kiêm tri thẩm hình viên sứ. Ông nội tên là Văn Hiến chức chủ ba đều làm quan có tiếng thời Trần, cha Đinh Hy làm quan triều Lê, giữ chức Thái trung đại phu, thượng thư tự khanh Hộ bộ tả thị lang, mẹ họ Chu. Bà được tuyển vào cung hầu vua Thánh Tông. Ngày Nhâm Thìn tháng 3 năm Quang Thuận thứ tám (1467) sinh Phúc Vương Tranh. Bà mất ngày Giáp Tí tháng 7 năm Kỷ Hợi, Hồng Đức thứ mười (1479), thọ 35 tuổi, mai táng ở phía bắc Khe Tùng thuộc quê ngoại.</li>
<li><strong>Nguyễn </strong><strong>Từ</strong><strong> dung</strong><strong> huý Kinh</strong><strong>,</strong> vợ Thánh Tông, mẹ Lâm Vương Tương, Ứng Vương Chiêu. Bà người xã Bối Khê huyện Thanh Oai, là con gái quan trung thư lệnh Nguyễn Trực. Tháng 11 năm Hồng Đức thứ ba (1472) được tuyển vào cung, vua đổi tên là Cẩm Kính. Tháng tám năm thứ hai hai (1491) thăng Hoa Dung. Tháng 11 năm thứ hai ba (1492) chiếu sách phong Tiệp Dư. Tháng 3 năm thứ hai sáu (1495) phong Tu Dung và ban sắc cho lấy công chúa thứ 16 làm con nuôi bà. Bà mất ngày 9 tháng 12 năm 1502, táng ở cồn Trống làng Bối Khê bên.</li>
<li><strong>Nguyễn Quý phi</strong><strong> huý Đam</strong>, vợ Thánh Tông, mẹ Triệu Vương Thoan, thị Lan công chuá. Bà người xã Hào Thược, huyện Kim Trà. Khi vua đi đánh Chiêm Thành dừng lại ở xã này, thấy bà đi gánh nước xem có nhan sắc vua đem lòng yêu bèn cho vào cung, được vua yêu mến. Bà mắc bệnh đậu mắt ngày 6 tháng 2 táng đồng bên ngoại, huyện Kim Trà.</li>
<li><strong>Vũ Tài nhân</strong><strong> huý Sồm</strong>, người tỉnh Vĩnh Phú, làm cung tần hầu vua Thánh Tông, sinh Lương Vương Thuyên, nữ thị Lý Công nương, bà mất ngày 21 tháng 4, táng ở Vĩnh Phú quê ngoại.</li>
<li><strong>Đặng Thị Kim Ngàn</strong><strong>,</strong> vợ Thánh Tông, mẹ Chiêu Nghĩa Vương. Người tỉnh Nam Định, làm cung tần hầu vua Thánh Tông, sinh Cảnh Vương và thị Ngọc Đào công nương. Bà mất ngày 19 tháng 7 năm Thái Trinh thứ nhất (1504) táng ở xứ đồng bên ngoại.</li>
<li><strong>Trịnh thị Ngọc Luyện</strong><strong>,</strong> người tỉnh Hải Hưng làm cung tần vua Thánh Tông, sinh ra Trấn Vương Tranh, Diễn vương Thông và Kính Vương Kiện. Bà mất ngày 14 tháng 2.</li>
<li><strong>Bùi Đắc Lộc</strong><strong>,</strong> người Hải Phòng làm cung tần vua Thánh Tông, sinh Quảng Vương Tác. Bà mất ngày 2 tháng 4.</li>
<li><strong> Tuyên Vương Hà Thị Dĩ</strong>, sinh Đường Vương Cảo.</li>
</ol>
<p>Nhân kỵ húy 525 năm ngày Hoàng đế Lê Thánh Tông băng hà (1497-2022), một chút lòng tri ân công lao trời bể của Ngài đối với Đại Việt xưa và Việt Nam ngày nay.</p>
<p><strong><em>Đà thành, ngày 01/03/2022 </em>(29 tháng Giêng năm Nhâm Dần)</strong></p>
<p><strong>TS.BS. Lê Văn Nho (UV Ban Thường vụ Hội đồng họ Lê Việt Nam)- </strong><strong>Ban khoa học Gia phả- Kết nối dòng họ</strong></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/tuong-niem-525-nam-ngay-gio-cua-vua-le-thanh-tong-30-01-am-lich-1497-2022/">Những người mẹ sinh ra 14 hoàng tử của vua Lê Thánh Tông- Nhân tưởng niệm 525 năm ngày giỗ vua Lê Thánh Tông (30/01 âm lịch, 1497-2022)</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/tuong-niem-525-nam-ngay-gio-cua-vua-le-thanh-tong-30-01-am-lich-1497-2022/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương: Hoàng tộc nhà Hậu – triêù Lê Sơ (1428-1527)*    </title>
		<link>https://holevietnam.vn/2553-2/</link>
					<comments>https://holevietnam.vn/2553-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[lekhanh]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 28 Feb 2022 08:21:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gia phả dòng họ]]></category>
		<category><![CDATA[tin nóng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://holevietnam.vn/?p=2553</guid>

					<description><![CDATA[<p>    HLVN &#8211; Nhà Hậu Lê &#8211; Lê sơ  là giai đoạn đầu của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê. Nhà Lê sơ được thành lập sau khi Lê Lợi đứng lên dựng cờ tụ nghĩa, phát động khởi nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh bại quân Minh, mang lại độc lập cho Đại Việt  năm 1428. Thời đại...</p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/2553-2/">Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương: Hoàng tộc nhà Hậu – triêù Lê Sơ (1428-1527)*    </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>    </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>HLVN &#8211;</em> Nhà Hậu Lê &#8211; Lê sơ  là giai đoạn đầu của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_%C4%91%E1%BA%A1i">triều đại</a> quân chủ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA">nhà Hậu Lê</a>. Nhà Lê sơ được thành lập sau khi <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_L%E1%BB%A3i">Lê Lợi</a> đứng lên dựng cờ tụ nghĩa, phát động <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_Lam_S%C6%A1n">khởi</a> nghĩa Lam Sơn năm 1418, đánh bại quân Minh, mang lại độc lập cho Đại Việt  năm 1428. Thời đại Lê sơ có 10 vị <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_%C4%91%E1%BA%BF">hoàng đế</a> thuộc 6 <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_h%E1%BB%87">thế hệ</a>, đây là thời kỳ các hoàng đế nhà Lê nắm trọn quyền hành, cũng là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. Đời <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%E1%BB%95">Lê Thái Tổ</a> (Lê Lợi), <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%C3%A1i_T%C3%B4ng">Lê Thái Tông</a>, Lê Thánh Tông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/X%C3%A3_h%E1%BB%99i">xã hội</a> được đi vào ổn định, phát triển thịnh vượng. Năm Mậu Thân (1428), sau 10 năm kháng Minh thành công, Nhà Hậu Lê (Lê sơ) khai quốc, lên ngôi, đến năm Đinh Hợi (1527) là 99 năm. Từ năm Đinh Hợi (1527) đến năm Nhâm Thìn (1532), Nhà Lê sơ bị nhà Mạc soán ngôi, trải qua 6 năm không có niên hiệu hoàng đế.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2550" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928073306-2048x1536.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p><em> Anh hùng Lao động Lê Văn Tam, Chủ tich HĐHL VN chủ trì Lễ giỗ lần thứ 585 năm Đức Vua Lê Thái Tổ tại Lam Kinh </em></p>
<p style="text-align: justify;">I- Từ Triệu tổ Cao hoàng đế Lê Hối đến Lê Thái Tổ &#8211; Lê Lợi: Tổ tiên của Đức Vua Lê Lợi (ông cố, ông nội và cha của Lê Lợi).</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Triệu tổ Cao hoàng đế<a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a>, Huyền tổ tên húy Lê Hối: Triệu tổ Cao hoàng đế mất, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Phổ Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Duyên: quê huyện Lôi Dương, xã Quần Đội, sinh ra Tuyên Tổ Phúc hoàng đế, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Tuyên Tổ Phúc hoàng đế, húy Lê Đinh: trưởng tử của Triệu tổ, giỗ ngày 21.10, táng tại Lỗi Viên thôn Hào Lương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trinh Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Quách: quê huyện Lôi Dương, xã Xuân Lan, sinh ra Hiển tổ Trạch Hoàng đế.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Hiển tổ Trạch Hoàng đế, tên húy Lê Khoáng<a href="#_ftn2" name="_ftnref2"><strong>[2]</strong></a>: con thứ của Tuyên Tổ, giỗ ngày 17.10, táng tại lăng Phật Hoàng, động Chiêu Nghi.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Hiển Từ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Thương<a href="#_ftn3" name="_ftnref3"><strong>[3]</strong></a>: quê huyện Lôi Dương, xã Thủy Chú – Vân Đô, sinh Thái Tổ Cao Hoàng Đế, giỗ ngày 17.10, táng tại lăng Bạch Thạch, thôn Chiêu Thị.</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Từ Thái tổ Cao hoàng đế Lê Lợi đến Cung Tông Hoàng đế, húy Thung (còn đọc là Xuân):</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">1/-Thái tổ Cao hoàng đế, họ Lê, húy Lợi: con út của Hiển tổ, Đệ tam cung, sinh ngày 6.8 năm Ất Sửu (1385).</p>
<p style="text-align: justify;">Vào ngày 9.1 năm Mậu Tuất, lúc 34 tuổi, ông khởi nghĩa ở huyện Lam Sơn, hiệu Lam Sơn động chủ. Năm 44 tuổi-Mậu Thân, ông lên ngôi vua (1428), niên hiệu Thuận Thiên, sau đổi Thái Bảo, tại vị 6 năm, thọ 49 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">Mất ngày 22.8 năm Quý Sửu (1433), táng tại Tẩm Điện (chính tẩm). Cũng trong năm ấy 2.9 hỏa hóa tại điện Cảnh Phúc. Cũng năm ấy, ngày 23.12 chuyển về Vĩnh Lăng ở Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Chánh tẩm Thái phi Trịnh Thị  Ngọc Lữ: quê huyện Lôi Dương, xã Bái Đô, giỗ ngày 26.12, sinh con trưởng là Lê Tư Tề làm Quốc vương, sau giáng xuống Quận Ai vương.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Cung Từ Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần: quê huyện Lôi Dương, xã Quần Đội, sinh con là Văn Hoàng đế, giỗ ngày 24.3, táng huyện Lôi Dương, xã Thạnh Mỹ, lăng An Tiết, tại điện Hiển Nhân.</p>
<p style="text-align: justify;">2/-Thái Tông Văn Hoàng đế, húy Lê Long<a href="#_ftn4" name="_ftnref4"><strong>[4]</strong></a>: con trai thứ của vua Lê Lợi, sinh ngày 22.11 năm Quý Mão (1423), hiệu Vạn Thọ Khánh Tiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 11 tuổi, vào ngày 8.9 năm Quý Sửu (1433), lên ngôi vua, niên hiệu Thiệu Bình, tại vị 10 năm, thọ 20 tuổi, mất ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/12_th%C3%A1ng_8">12 tháng 8</a> năm Nhâm Tuất (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1442">1442</a>), táng tại Hựu Lăng, Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Tuyên Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Anh: quê huyện Đông Sơn, xã Bố Vệ, sinh ra Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, giỗ ngày 3.10.</p>
<p style="text-align: justify;">3/-Nhân Tông Tuyên Hoàng đế, húy Bang Cơ: con thứ của Thái Tông, sinh ngày 9.8 năm Tân Dậu, hiệu Khánh Thiên Thánh Tiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 2 tuổi, vào ngày 3.8 năm Nhâm Tuất lên ngôi vua lấy niên hiệu Thái Hòa, sau đổi Diên Ninh, tại vị 18 năm, thọ 19 tuổi, mất ngày 3.10 năm Kỷ Mão (1459), táng tại Mục Lăng, Lam Sơn</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao: quê huyện Yên Định, xã Đồng Bàng, sinh Thánh Tông Thuần Hoàng đế, giỗ ngày 26.3, táng tại quận Yên Định, xã Đồng Bàn, lăng lập ở điện Thừa Hoa, thờ cúng ở điện Thung Thôn</p>
<p style="text-align: justify;">4/-Thánh Tông Thuần Hoàng đế, húy Thành<a href="#_ftn5" name="_ftnref5"><strong>[5]</strong></a>, con út của Thái Tông, sinh ngày 20.7 năm Nhâm Tuất 1442, hiệu là Sùng Thiên Thánh Tiết.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào năm 19 tuổi, năm Kỷ Mão lên ngôi vua, niên hiệu Quang Thuận, Thiên Nam động chủ.</p>
<p style="text-align: justify;">Mười một năm sau, vào năm Ất Sửu cải nguyên Hồng Đức 29 năm,  tại vị 39 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 2.6 năm Đinh Tỵ lập thần vị là “Thái tử hiệu Cảnh Thống thọ ngũ thập thất tuế”, mất ngày 30.1 năm Mậu Ngọ (1497), táng tại Chiêu Lăng, Lam Sơn</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-2551" src="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-1024x768.jpg" alt="" width="1020" height="765" srcset="https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-1024x768.jpg 1024w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-300x225.jpg 300w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-768x576.jpg 768w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-1536x1152.jpg 1536w, https://holevietnam.vn/wp-content/uploads/2022/02/IMG20180928081345-2048x1536.jpg 2048w" sizes="auto, (max-width: 1020px) 100vw, 1020px" /></p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Huy Gia Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyền: quê huyện Tống Sơn, xã Gia Miêu, sinh ra Hiến Tông Ưng Hoàng đế, giỗ ngày 21.3</p>
<p style="text-align: justify;">5/-Hiến Tông Dung Hoàng đế, húy Tăng<a href="#_ftn6" name="_ftnref6"><strong>[6]</strong></a>: con trưởng của Thánh Tông, sinh năm Giáp Ngọ.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 24 tuổi lên ngôi ngày 2.2 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Cảnh Thống, xưng Thượng Dương Sơn động chủ, tại vị 8 năm, thọ 31 tuổi, mất ngày 24.5  năm Giáp Tý, táng tại Hựu Lăng.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trang Thuận Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Hoàn: quê huyện Thiên Thi, xã Bình Lăng, sinh Túc Tông Khâm Hoàng đế, giỗ ngày 15.12</p>
<p style="text-align: justify;">6/-Túc Tông Khâm Hoàng đế, húy Thuần : con trưởng của Hiến Tông, sinh năm Tân Dậu. Năm 17 tuổi, ngày 2.6 năm Giáp Tý lên ngôi vua, niên hiệu Thái Trinh, tại vị 7 tháng, thọ 4 tuổi, mất ngày 18.12 năm Giáp Tý, táng tại Chiêu Lăng, Lam Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nhu Ý Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Thi, quê huyện Đông Ngạn, xã Phù Chẩn, sinh Đức Tông Kiến hoàng đế, giỗ ngày 22.3.</p>
<p style="text-align: justify;">7/-Đức Tông Kiến hoàng đế húy Phô: sinh năm Mâu Ngọ, lúc 16 tuổi, năm, ngày 28.12 năm Giáp Tý lên ngôi vua, niên hiêu Đoan Khánh, tại vị 6 năm, thọ 21 tuổi, mất ngày 8.12 năm Kỷ Tỵ (1409), táng tại quê mẹ huyện Đông Ngạn, xã Phù Chẩn, An Định lăng.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Huy Từ Hoàng Thái hậu Trinh Thị Ngọc Tuyên: quê Lôi Dương, xã Vĩnh Chú, sinh ra Minh Tông Triết hoàng đế.</p>
<p style="text-align: justify;">8/-Minh Tông Triết Hoàng đế, Nhương đế, húy Sùng: con trưởng của Đức Tông, sinh năm Ất Mão (1495).</p>
<p style="text-align: justify;">          Năm 15 tuổi, ngày 3.5 năm Kỷ Tỵ, ông lên ngôi vua, niên hiệu Hồng Thuận, tại vị 8 năm, thọ 22 tuổi, mất 13.11 năm Bính Tý, táng tại huyện Khâm Thiên, xã Mỹ Xá.</p>
<p style="text-align: justify;">-Đoan Mục Hoàng thái hậu Lê Thị Ngọc Loan Bảo: quê huyện Cát Trì, xã Vĩnh</p>
<p style="text-align: justify;">Trung, sinh ra Chiếu Tông Thần Hoàng đế, giỗ ngày 13.11, táng tại Đoan Khắc điệ</p>
<p style="text-align: justify;">9/-Chiêu Tông Thần Hoàng đế: con trưởng của Minh Tông, sinh năm Ất Sửu, năm 12 tuổi, ngày 20.4 năm Bính Tý lên ngôi vua, niên hiệu Quang Thiệu,</p>
<p style="text-align: justify;">Tại vị 7 năm, bị Mạc Đăng Dung giáng làm Đà Dương vương, thọ 18 tuổi, mất ngày 1.12 năm Nhâm Ngọ, táng tại Lam Sơn Nguyễn Xá, gần xã An Lạc.</p>
<p style="text-align: justify;">-Gia Khánh Hoàng Thái hậu Lê Thị Ngọc Quỳnh: quê huyện Đoan Nguyên, sinh Trang Tông Dụ hoàng đế</p>
<p style="text-align: justify;">*10/-Cung Tông Hoàng đế, húy Thung (còn đọc là Xuân): là cháu của Đức Tông, là con thứ của Minh Tông, là em của Chiêu Tông, sinh năm Mậu Dần.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ông 5 tuổi, vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1522) lên ngôi vua, niên hiệu Thống Nguyên, tại vị 6 năm, bị Mạc Đăng Dung soán vị, thọ 10 tuổi, mất năm Đinh Hợi, táng tại huyện Khâm Thiên, xã Mỹ Hợp, An Tiết lăng.</p>
<p style="text-align: justify;">Trích Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương, Bảo Đại năm thứ 19 (1944), tháng Hai, phụng sao. Bản V.1305 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm</p>
<p style="text-align: justify;">Người dịch: Phạm Thúc Hồng</p>
<p style="text-align: justify;">Tổ chức biên soạn – Hiệu đính: TS.BS. Lê Văn Nho</p>
<p style="text-align: justify;">* Hoàng tộc Nhà Hậu Lê – Triều Lê sơ là đề mục do chúng tôi xây dựng.</p>
<p style="text-align: right;">                        <strong>                                         </strong><strong>T<em>S.BS. Lê Văn Nho </em></strong></p>
<p style="text-align: right;">                                                                                                 Ủy viên Ban TV HĐ HLVN</p>
<p style="text-align: right;">                                    Ban khoa học gia phả &#8211; Kết nối dòng họ</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tài liệu tham khảo:</em></p>
<p style="text-align: justify;">Đại Việt sử ký toàn thư</p>
<p style="text-align: justify;">Lê triều ngọc phả (Hoàng Lê ngọc phả)</p>
<p style="text-align: justify;">Lê tộc sinh hạ</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàng Lê ngọc phả tập ký</p>
<p style="text-align: justify;">Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương</p>
<p style="text-align: justify;">Gia phả tộc Trịnh làng Thủy Chú – Vân Đô (Xuân Thắng- Thọ Xuân- Thanh Hóa)</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Các danh hiệu này là do Lê Lợi sau khi lên ngôi vua đã suy tôn Cao tổ, Tằng tổ, Nội tổ và cha mẹ ruột của mình.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Thương sinh 3 trai và 3 gái. 3 trai: Lê Học <em>(Hiển Tổ trưởng tử, phong Chiêu Hiếu Vương)</em>, Lê Trừ <em>(Hiển Tổ thứ tử, tôn Hoằng Dụ Vương)</em>, Lê Lợi <em>(Thái Tổ, Hiển Tổ quý tử).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Con Lê Học<em>: Lê Thạch (Lê Học trưởng tử, phong Trung Dũng Vương).</em></p>
<p style="text-align: justify;">Con của Lê Trừ: Lê Khôi<em> (Trưởng tử, Chiêu Huy Đại vương), </em>Lê Khang (<em>Thứ 2, Hiển Công Vương), </em>Lê Khiêm <em>(Thứ 3, Xương quốc công),. Theo Lê tộc sinh hạ (1429): </em>Lê Trừ<em> còn có 2 con trai là </em>Lê Sao<em> (Qùy Quốc công) và quý tử là </em>Lê Đạo<em> (Thiếu úy Quận công). </em>3 gái: Công chúa Lê Thị Ngọc Vị (Tá), Lê Thị Ngọc Triển và Lê Thị Ngọc Biền.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref3" name="_ftn3">[3]</a> Theo gia phả Trịnh tộc làng Thủy Chú: Cụ bà Trịnh Thị Ngọc Thương táng tại quê nhà của bà ở đồi Thao Quang, làng Thủy Chú (nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref4" name="_ftn4">[4]</a> Theo Lê triều ngọc phả: vua Lê Thái Tông có 4 con trai, 4 con gái. 4 con trai: Lê Nghi Dân (con trưởng), Lê Khắc Xương (con thứ 2), Lê Bang Cơ (Vua Lê Nhân Tôn, con thứ 3), Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông, con út).  4 con gái:  trưởng nữ là Lê Thị Ngọc Đường, thứ là Lê Thị Ngọc Hoàn (cùng mẹ với Nhân Tông), thứ 3 là Lê Thị Ngọc Điểm (cùng mẹ với Nghi Dân), út là Lê Thị Ngọc Tiết (cùng mẹ với Thánh Tông, là Ngô Thị Bính).</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref5" name="_ftn5">[5]</a> Theo Lê triều ngọc phả: Vua Lê Thánh Tông có 14 con trai, 20 con gái.</p>
<p style="text-align: justify;">14 con trai: Lê Tăng <em>(Lê Hiến Tông),</em> Lương vương <em>(Lê Thuyên)</em>, Tống vương <em>(Lê Tung</em>), Đường vương <em>(Lê Cảo),</em> Kiến Vương <em>(Lê Tân),</em> Phúc vương <em>(Lê Tranh),</em> Diễn vương <em>(Lê Thông)</em>, Quảng vương <em>(Lê Táo),</em> Lâm vương <em>(Lê Tương),</em> Ứng vương <em>(Lê Chiêu),</em> Nghĩa vương <em>(Lê Cảnh)</em>,Trấn Vương <em>(Lê Tranh),</em>Triệu vương <em>(Lê Thoan),</em> Kinh vương <em>(Lê Kiện).</em></p>
<p style="text-align: justify;">20 con gái: Công chúa vua Lê Thánh Tông :</p>
<p style="text-align: justify;">Công chúa Gia Thục (trưởng nữ), Ý Đức, Thụy Hoa, Chiêu Huy, Thiên Vương, Quỳnh Phương, Bảo Thanh, Dương Xuân, Mãn Đường, Thao Chi, Nhụy Vân, Cẩm Vinh, Giáng Hương, Cảnh Bình, Đoan Hòa, Kính Thuận, Diễm Văn, Trang công chúa, và hai công chúa mất sớm.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="#_ftnref6" name="_ftn6"></a></p>
<p>Bài viết <a href="https://holevietnam.vn/2553-2/">Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương: Hoàng tộc nhà Hậu – triêù Lê Sơ (1428-1527)*    </a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://holevietnam.vn">TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://holevietnam.vn/2553-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
