HỘI ĐỒNG HỌ LÊ VIỆT NAM –––––––––––––––– CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc –––––––––––––––––––––––– QUI ƯỚC HỘI ĐỒNG HỌ
Họ khác trong vùng, họ Lê Văn ở xóm Đình, khu 11, xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì là dòng họ lớn với 249 gia đình, 1.786 nhân khẩu
Chiến tranh loạn lạc và những thăng trầm của các triều đại đã khiến nhiều họ tộc rơi vào cảnh ly tán, xa rời tổ quán, thân thuộc không biết
Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học tìm về dòng họ Lê, nơi lưu giữ 23 cuốn sắc phong có niên đại hàng trăm năm. Tuy nhiên, cho đến
MANG VỀ Mang về nắm đất của Lam Kinh Trân trọng đặt lên bàn thờ Tổ Ước nguyện bao tháng ngày trăn trở Thỏa nỗi khát khao những đợi chờ.
Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà
LÊ XUÂN TUYỂN (1831 – 1909) Lê Xuân Tuyển sinh năm 1831 trong một gia đình khá giả ở thôn Đông Thành (nay thuộc xã Hoằng Tiến), có nghề làm
Lê Viết Trạc (1853- 1887) Khi có chiều Cần Vương cứu nước của triều đình kháng chiến Hàm Nghi ban bố vào tháng 7 năm 1885 thì phong trào Văn
Diễn văn khai mạc Lễ đặt đá xây dựng tổ đình họ Lê tỉnh Thừa Thiên- Huế Kính thưa đại biểu thay mặt chính quyền địa phương các cấp
LÊ NGỌC XÍCH (1568- 1640) Lê Ngọc Xích[1] sinh ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thìn, niên hiệu Chính Trị thứ 11 (1568) đời vua Lê Anh Tông (Lê Duy
LÊ VĂN TIẾN (1821 – 1876) Quê làng Quỳ Chử, sinh ngày 22 tháng 3 năm Tân Tỵ (1821) trong một gia đình đã nhiều đời giữ nếp sống nhân
Lê Tuấn Kiệt (thế kỉ 16)[1] Lê Tuấn Kiệt người xã Từ Minh, huyện Hoằng Hoá, nay là làng Từ Minh, xã Hoằng Long, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.












